Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 41/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài

sản là quyền sử dụng đất”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Tuyết Minh.
  2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2021/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QÐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, số 33/2024/QÐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B – 1963.

Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • Bà Trần Thị Mỹ D – 1969.

Địa chỉ: Tổ I, khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  • Chị Đinh Thị Thúy H – 1984.

Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Trần Văn T – 1973.

Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Trần Thị N – 1986.

Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

  • Bà Nguyễn Thị Thúy H1 – 1978.

Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N: Bà Trần Thị Mỹ D – 1969.

Địa chỉ: Tổ I, khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy H1: Chị Ngô Phương Hoàng G – 1987.

Nơi đăng ký thường trú: Khu dân cư 9, ấp 3, xã Phú Hòa, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở: Ấp Hưng Thanh, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

(có mặt bà D và chị G; vắng mặt chị H)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị B và ông Trần Văn T1 kết hôn năm 1983, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Năm 1987, vợ chồng bà B vào lập nghiệp tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai và có mua của ông Nguyễn Văn K diện tích hơn 05 sào đất với giá 4,5 chỉ vàng 9999. Việc mua bán có làm giấy tay ngày 04/02/1987, có ông Đặng Xuân V làm chứng. Tại thời điểm sang nhượng, trên đất có hoa màu, 01 cái chòi và 01 thùng đựng lúa. Tứ cận thửa đất: Đông giáp đất ông Tư N1, Tây giáp đường be, Nam giáp đất bà H2, Bắc giáp đất ông T2.

Vợ chồng bà Ba sinh s ổn định đến năm 1991 thì trong lúc gia đình đang cuốc đất đã cuốc phải vật liệu nổ nên ông T1 và con trai Trần Duy K1 tử vong, bà B bị thương tích nặng.

Sau đó, bà B được gia đình đưa về quê Nam Định sinh sống và có nhờ cụ Trần Thanh T3 là bố chồng trông coi giúp diện tích đất trên. Việc nhờ trông coi đất thì chỉ nói miệng chứ không lập thành văn bản.

Do điều kiện kinh tế khó khăn nên đến năm 2017 bà B vào lại M để gặp cụ T3 yêu cầu trả lại đất thì cụ T3 không đồng ý trả. Lúc này bà B mới biết là phần diện tích đất của vợ chồng bà B đã được cụ T3 kê khai đăng ký và đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa 773 tờ bản đồ số 06 có diện tích 8.300m², cấp ngày 04/12/1997 và anh Trần Văn T4 kê khai đăng ký thửa 774 tờ bản đồ số 06 có diện tích 2.700m².

Năm 2006, cụ T3 làm thủ tục tặng cho con đẻ là ông Trần Văn T diện tích 2.789m² thuộc một phần thửa 773 tờ bản đồ số 06 nêu trên. Đến năm 2016 thì tiến hành thủ tục tách thửa và ông T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/7/2016 thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 23 bản đồ địa chính xã P.

Từ khi bà B về quê (năm 1991) đến nay, quyền sử dụng đất nêu trên do cụ T3 và sau này là ông T cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thúy H1 quản lý, sử dụng.

Đối với phần đất còn lại từ việc mua của ông Nguyễn Văn K: Do cụ T3 tặng cho ông Trần Văn T4, bà Trần Thị K2 và ông T4, bà K2 kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu nên bà B đã khởi kiện tranh chấp trong vụ án khác. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B, buộc ông T4 và bà K2 trả lại đất.

Nay bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả lại cho bà B quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² thuộc thửa 135 tờ bản đồ số 23 bản đồ địa chính xã P.

Đối với các tài sản trên đất thì bà B xác định là tài sản của ông T và bà H1. Bà B đồng ý thanh toán cho ông T và bà H1 giá trị tài sản trên đất và công sức đóng góp trong việc quản lý tài sản từ năm 1991 đến nay với số tiền 200.000.000đ. Đối với kết quả thẩm định giá thì bà D không có ý kiến gì.

Ông Trần Văn T1 có vợ là bà Nguyễn Thị B, có 02 con đẻ là anh Trần Duy K1 (chết cùng thời điểm với ông T1, khi chết không có vợ, con) và chị Trần Thị N. Bố mẹ của ông T1 đã chết, ông T1 không có bố mẹ nuôi, không có con nuôi và con đẻ nào khác.

Chị N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B, không có yêu cầu độc lập đối với phần di sản của ông T1.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Trần Văn T là con ruột của cụ Trần Thanh T3, sinh năm: 1934, địa chỉ tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (cụ T3 chết năm 2018).

Vào ngày 04/12/1997, cụ T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 195552 đối với diện tích 29.488m² thuộc thửa 773 tờ bản đồ số 06 bản đồ địa chính xã P. Do cụ T3 đã mất nên chị không còn thông tin để cung cấp về nguồn gốc đất này từ đâu mà có, cũng không rõ có người làm chứng nào biết về nguồn gốc đất hay không.

Ngày 26/5/2006, cụ T3 có tặng cho ông T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 diện tích đất 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P (là một phần thửa số 773, tờ bản đồ số 06 cũ). Việc tặng cho nêu trên có lập giấy viết tay “Giấy cho đất”.

Đến ngày 20/02/2016, ông T và bà H1 làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Q 110890 với diện tích 2.789m² thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P.

Từ khi được tặng cho đất đến nay, ông T và bà H1 sử dụng ổn định để canh tác trồng trọt, không cho người khác thuê, mượn đất. Ngoài ông T và bà H1, không có ai khác canh tác và sinh sống trên đất.

Nay bà Nguyễn Thị B yêu cầu ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả lại quyền sử dụng diện tích đất 2.789m² thuộc thửa 135 tờ bản đồ số 23 bản đồ địa chính xã P thì chị không đồng ý. Vì đây là tài sản hợp pháp của ông T và bà H1, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Các tài sản trên đất là của ông T và bà H1. Đối với kết quả thẩm định giá thì chị không có ý kiến gì.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn ông Trần Văn T về việc tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả lại cho bà Nguyễn Thị B quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² thuộc thửa 135 tờ bản đồ số 23 bản đồ địa chính xã P.

  • Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B về việc thanh toán cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 giá trị tài sản trên đất và công sức quản lý đất là 200.000.000đ.
  • Về chi phí tố tụng: Đề nghị buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng đã nộp.
  • Về án phí: Đề nghị buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Văn T trả lại quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T về tranh chấp quyền sử dụng đất. Xét thấy việc giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Thúy H1, chị Trần Thị N. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì xác định bà Nguyễn Thị B là nguyên đơn, ông Trần Văn T là bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và chị Trần Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bà B ủy quyền cho bà Trần Thị Mỹ D và chị Đinh Thị Thúy H đại diện tham gia tố tụng. Ông T và bà H1 ủy quyền cho chị Ngô Phương Hoàng G đại diện tham gia tố tụng. Chị N ủy quyền cho bà Trần Thị Mỹ D đại diện tham gia tố tụng. Căn cứ Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định bà D, chị H, chị G là đại diện theo ủy quyền của đương sự.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thúy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị Đinh Thị Thúy H.

[1.4]. Về mối quan hệ của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B có chồng là ông Trần Văn T1 (đã chết năm 1991). Ông T1 có bố đẻ là cụ Trần Thanh T3 (đã chết năm 2018) và em ruột là ông Trần Văn T. Như vậy, bà B là con dâu của cụ T3 và là chị dâu của bị đơn ông Trần Văn T. Bà B và ông T1 có 02 con đẻ là chị Trần Thị N và anh Trần Duy K1 (đã chết năm 1991, khi chết không có vợ, con).

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1]. Về nguồn gốc tài sản tranh chấp:

Nguyên đơn trình bày nguồn gốc đất tranh chấp do vợ chồng ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị B nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn K (hiện đã chết) theo Giấy sang nhượng đất ngày 04/02/1987, diện tích khoảng 5.000m², có ông Đặng Xuân V làm chứng ký tên. Ông T1 và bà B sử dụng đất cho đến năm 1991 thì ông T1 chết, bà B bị thương nặng do bị tai nạn nên bà B về quê tại Nam Định chữa trị. Bà B có giao lại đất cho cụ Trần Thanh T3 (là bố của ông T1) trông coi giúp diện tích đất trên, việc nhờ trông coi dùm không lập thành văn bản.

Bị đơn trình bày do nguồn gốc đất do bố đẻ của ông T là cụ Trần Thanh T3 tặng cho ông T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 đối với diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P (là một phần thửa số 773, tờ bản đồ số 06 cũ). Còn nguồn gốc đất trước đó thì do cụ T3 đã chết nên không rõ thông tin.

Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của ông Đặng Xuân V, bà Đặng Thị T5 (vợ của ông Nguyễn Văn K), kết quả xác minh tại địa phương và nhận định tại Bản án số 309/2024/DS-PT ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thì có đủ cơ sở xác định phần đất diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P (là một phần thửa số 773, tờ bản đồ số 06 cũ) nêu trên có nguồn gốc do ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị B nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn K. Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

[2.2]. Quá trình sử dụng đất và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Ngày 28/11/1996, cụ T3 kê khai làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đơn đăng ký quyền sử dụng đất, cụ T3 ghi với nội dung là sang lại của ông Chín N2 năm 1989 nhưng không có giấy tờ chuyển nhượng kèm theo. Dựa trên tờ kê khai của cụ T3, UBND xã P họp xét duyệt đơn đăng ký đất đai đối với thửa đất số thửa 773, tờ bản đồ số 06, tổng diện tích: 8.300m² cho cụ Trần Thanh T3. Ngày 04/12/1997, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 195552 cho cụ Trần Thanh T3 trong đó có thửa 773, tờ bản đồ 06 (cũ), tương ứng với thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P các đương sự hiện đang tranh chấp.

Nhận thấy, cụ Trần Thanh T3 chỉ là người được nhờ trông coi đất nhưng lại tiến hành kê khai và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số L 195552 ngày 04/12/1997 là không đúng quy định pháp luật. Đồng thời, theo quy định của pháp luật thì người đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có tài liệu, giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất của mình. Tuy nhiên, cụ T3 không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất đối với thửa đất số 773, tờ bản đồ số 06, bản đồ địa chính xã P khi nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện tại địa phương không có ai tên “Chín Ngọc”. Do đó, UBND xã P xét duyệt đơn và UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ T3 là trái với quy định của Luật Đất đai năm 1993.

Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, ngày 26/5/2006 cụ T3 lập “Giấy cho đất” tặng cho ông Trần Văn T. Đến ngày 19/7/2016, ông T và vợ là bà Nguyễn Thị Thúy H1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 2.789m² theo số thửa mới là thửa số 135, tờ bản đồ 23 bản đồ địa chính xã P.

Ngoài ra, vào năm 2017 khi bà B yêu cầu cụ T3 trả lại quyền sử dụng đất nhờ trông coi dùm nhưng cụ T3 cho rằng đã mua đất của bà B với giá 08 chỉ vàng nên không đồng ý trả lại đất. Theo Biên bản hòa giải ngày 28/8/2020 tại UBND xã P thì ông T xác định phần đất ông được cấp được cụ T3 cho vào năm 1999 và không đồng ý trả lại đất cho bà B do cụ T3 đã mua lại của ông T1 và bà B vào năm 1991. Ngoài ra, tại Bản tự khai tại Tòa án ông T cũng xác định phần đất nêu trên do cụ T3 mua lại của bà B. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện việc cụ T3 mua lại đất của ông T1, bà B.

Vì vậy, bà B yêu cầu vợ chồng ông T, bà H1 trả lại cho bà quyền sử dụng diện tích đất 2.789m² thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ 23, bản đồ địa chính xã P và công nhận cho bà quyền sử dụng đất này là có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

Đối với ½ diện tích đất 2.789m² thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ 23, bản đồ địa chính xã P là di sản ông T1 để lại. Chị N là con đẻ của ông T1, tức thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T1 có ý kiến là đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B. Chị N không có yêu cầu độc lập gì đối với di sản ông T1 để lại nên không đặt ra xem xét.

[2.3]. Từ những căn cứ phân tích như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B, buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả lại cho bà Nguyễn Thị B quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ 23, bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4 theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1433/2022 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T6 cho bà Nguyễn Thị B.

[2.4]. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B tự nguyện thanh toán cho vợ chồng ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 công sức trông coi, quản lý, giữ gìn làm tăng giá trị đất từ năm 1991 đến nay và tài sản, cây trồng trên đất với số tiền 200.000.000đ.

Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, Biên bản ghi nhận hiện trạng của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú và Chứng thư thẩm định giá số 97/TĐG-CT ngày 04/4/2023 của Công ty Cổ phần T7 thì trên đất có 01 giếng khoan, 01 giếng đào, 30 cây bưởi, 11 cây gòn làm nọc tiêu, 73 cây mít, 50 cây sầu riêng, 20 cây chanh, 30 cây ổi. Giá trị các công trình xây dựng đã qua sử dụng, cây xanh nêu trên là 80.600.000đ.

Xét thấy sự tự nguyện của nguyên đơn là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3]. Về các vấn đề khác:

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 195552 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp cho cụ Trần Thanh T3 ngày 04/12/1997 đối với thửa đất số 773, tờ bản đồ số 06, bản đồ địa chính xã P là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã được thu hồi để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà H1 và cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, không còn hiệu lực nên không được xem là quyết định cá biệt theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 110890 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 ngày 19/7/2016 đối với diện tích đất 2.789m² thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ 23, bản đồ địa chính xã P. Xét Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được cấp trên cơ sở hợp đồng, giao dịch. Do đó, Tòa án không tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ căn cứ vào bản án của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

[4]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp các chi phí tố tụng sau:

  • Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.271.673đ (làm tròn là 3.272.000₫).
  • Chi phí thẩm định giá tài sản là 20.000.000đ.

Tổng cộng là 23.272.000đ.

Căn cứ vào các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc ông T và bà H1 phải trả lại cho bà B số tiền chi phí tố tụng đã nộp.

[5]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu 300.000đ án phí DSST không có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

[6]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 85, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Các Điều 11, Điều 164, Điều 166, Điều 609, Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 2 Luật Đất đai năm 1993;
  • Điều 100 và Điều 104 Luật Đất đai năm 2013;
  • Điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B đối với ông Trần Văn T về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả lại cho bà Nguyễn Thị B quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4 theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1433/2022 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T6 cho bà Nguyễn Thị B.

Bà B được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm 01 giếng khoan, 01 giếng đào, 30 cây bưởi, 11 cây gòn làm nọc tiêu, 73 cây mít, 50 cây sầu riêng, 20 cây chanh, 30 cây ổi. (Hiện trạng tài sản được mô tả theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2022, Biên bản ghi nhận hiện trạng tài sản tranh chấp ngày 15/3/2023; Biên bản chứng kiến việc thẩm định giá ngày 15/3/2023 của Tòa án, Chứng thư Thẩm định giá số 97/TĐG-CT ngày 04/4/2023 của Công ty Cổ phần T7).

Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xem xét thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 110890 cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 ngày 19/7/2016 để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B đối với diện tích 2.789m² tại thửa 135, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký, kê khai để chỉnh lý biến động đất đai đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được công nhận theo quy định của pháp luật.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B về việc thanh toán giá trị tài sản trên đất và chi phí giữ gìn, tôn tạo đất cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 với số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản) là 23.272.000₫ (Hai mươi ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà B đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0004223 ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND huyện Tân Phú;
  • Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 41/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger