Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Hiền.
  2. Bà Nguyễn Thị Lại.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh– Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 và 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2023/TLST-DS ngày 11/01/2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QÐST-DS ngày 28/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QÐST-DS ngày 14/8/2023; Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 57/2023/QÐST-DS ngày 01/9/2023; Quyết định tạm đình chỉ số 11/2023/QÐST-DS ngày 28/9/2023; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 04/2024/QÐST-DS ngày 01/5/2024; Thông báo thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QÐST-DS ngày 18/6/2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 48/2024/QÐST-DS ngày 28/6/2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 49/2024/QÐST-DS ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Hữu X, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông X là Luật sư Trần Văn H- thuộc Văn phòng L2- Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

(vắng mặt ngày 12/7/2024, có mặt ngày 15/7/2024)

· Bị đơn: Anh Bùi Thế T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T là Luật sư Lê Văn T1 (có mặt ngày 12/7/2024; vắng mặt ngày 15/7/2024) và Đỗ Thị Nhật L (vắng mặt)- thuộc Văn phòng L3- Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Số D, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bùi Thị N, sinh năm 1951, địa chỉ: Tổ A cụm D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  2. Anh Bùi Thế H1, sinh năm 1974, Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  3. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1977, Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  4. Chị Bùi Thị V, sinh năm 1979, Địa chỉ: xóm A Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  5. Chị Bùi Thị M, sinh năm 1982, Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  6. Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  7. Anh Bùi Anh Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  8. Chị Bùi Thị H2, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  9. UBND phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  10. Do ông Nguyễn Xuân T2- chức vụ: Chủ tịch làm đại diện.

    (vắng mặt, có văn bản xin vắng mặt)

  11. UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  12. Do ông Nguyễn Đại L1, chức vụ: Chủ tịnh là đại diện.

    (vắng mặt, có văn bản xin vắng mặt)

  13. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)
  14. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 21/12/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Bùi Hữu X trình bày:

Bố ông X là cụ Bùi Thế Y sinh năm 1906, chết năm 1996.

Mẹ ông X là cụ Nguyễn Thị T3 sinh năm 1913, chết năm 2000.

Bố mẹ ông Xuân s được 5 người con gồm:

  1. Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1937, chết năm 1968.
  2. Ông Bùi Thế T4, sinh năm 1940, chết năm 2014.
  3. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1951.
  4. Bà Bùi Thị H4, sinh năm 1953, chết năm 2007.
  5. Ông Bùi Hữu X, sinh năm 1956.

Ngoài ra bố mẹ ông X không có bố mẹ nuôi hoặc con ngoài giá thú nào khác.

Trước năm 1974, cụ Y, cụ T3 và các con ở ngôi nhà ở trong làng. Đến năm 1974, cụ Y, cụ T3, bà N, bà H4 và ông X ra thửa đất ngoài xây ngôi nhà cấp 4, bốn gian để ở. Còn ngôi nhà cũ để lại cho ông T4 cùng vợ con ở.

Cụ Y, cụ T3, bà N1, ông T4 chết nhưng không để lại di chúc. Bà Hoa c có lại di chúc. Bà N1 có chồng và một người con nhưng cả 3 người đều đã chết.

Ông T4 kết hôn với bà Dương Thị G (sinh năm 1944, chết năm 2019) và có 5 người con là: Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V, Bùi Thị M. Ông T4 và bà G chết nhưng không để lại di chúc.

Bà H4 không có chồng và không có con. Bà H4 chết 2007 có để lại di chúc cho vợ chồng anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K di sản là 200m² đất. Tuy nhiên, di chúc của bà H4 không hợp pháp do bà H4 không có quyền để lại tài sản.

Cụ Y và cụ T3 chết đi có để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà 4 gian cấp 4 nhà gỗ mái ngói. Anh T và chị K là người đang quản lý sử dụng từ năm 2007 đến nay. Trên đất có 01 ngôi nhà 4 gian cấp 4 nhà gỗ mái ngói do cụ Y và cụ T3 xây dựng từ năm 1974 hiện đã hết giá trị sử dụng; 01 ngôi nhà 2 tầng do anh T, chị K xây dựng năm 2009; 01 ngôi nhà 03 gian cấp 4 do anh T, chị K xây dựng năm 2013; 01 bán mái mái tôn khung sắt do anh T, chị K xây dựng năm 2020; tường bao do anh T, chị K xây dựng năm 2018.

Bị đơn anh T có yêu cầu phản tố:

Đề nghị tòa án xác định 232,9m2 đất di sản của bà H4 để lại. Đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà H4.

Đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² (trong tổng diện tích 450,4m²) là sử dụng hợp pháp của anh T và chị K do khai hoang.

Ông X không đồng ý với lý do: Di chúc của bà H4 không hợp pháp do bà H4 không có quyền về tài sản vì bà H4 chưa được cụ Y và cụ T3 tặng cho; hàng thừa kế của hai cụ chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế cho bà H4. Diện tích 217,5m² không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T và chị K mà thuộc di sản thừa kế của cụ Y và cụ T3 chết đi để lại. Anh T và chị K không hề khai hoang. Khi gia đình anh T ra ở thì cụ T3 và bà H4 đã xây tường bao rồi.

Đối với yêu cầu của anh Bùi Thế H1 yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 chết đi để lại là Quyền sử dụng 450,4m² đất thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, 4 gian. Cụ thể mỗi người được chia như sau: Chia cho 4 người con gồm ông X, bà N, bà H4 và ông T4 mỗi người được 1/4 di sản. Ông T4 chết không để lại di chúc nên đề nghị chia di sản của ông T4 cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Ông X chỉ đồng ý chia 450,4m² đất cho 3 người con gồm ông X, bà N và ông T4 mỗi người được 1/3 di sản. Việc anh H1 đề nghị chia cho 4 người con gồm ông X, bà N, bà H4 và ông T4 mỗi người được 1/4 di sản thì ông X không đồng ý.

Việc bà N tặng cho ông X toàn bộ di sản mà bà N được hưởng, ông X đồng ý nhận.

Tại phiên toà, ông Bùi Hữu X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc:

Yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 theo pháp luật. Di sản thừa kế 2 cụ để lại là Quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, 4 gian.

Cụ thể mỗi người được chia như sau:

Chia cho 3 người con gồm ông X, bà N và ông T4 mỗi người được 1/3 di sản.

Ông T4 chết không để lại di chúc nên đề nghị chia di sản của ông T4 cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc của bà Bùi Thị H4 để lại bị vô hiệu toàn bộ.

Ông X đồng ý thanh toán cho vợ chồng anh T toàn bộ giá trị tài sản trên đất do vợ chồng anh T tạo lập.

Bị đơn anh Bùi Thế T có mặt tại phiên tòa trình bày:

Anh T thống nhất với lời trình bày của ông X về quan hệ huyết thống, về các con của cụ Y và cụ T3, ông T4 và bà G; về hàng thừa kế thứ nhất của những người này.

Anh T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông X. Với lý do:

Tài sản này không phải là di sản thừa kế của cụ Y và cụ T3 để lại.

Tài sản này là di sản thừa kế của bà H4 để lại.

Bà H4 chết có di chúc để lại cho anh T và chị K diện tích là 200m² (đo đạc thực tế là 232,9m²); còn là diện tích 217,5m² do vợ chồng anh T chị K khai hoang và xác lập quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích này.

Đề nghị Tòa án xác định 232,9m² đất di sản của bà H4 để lại. Đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà H4.

Đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² là sử dụng hợp pháp của anh T và chị K do khai hoang trong quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ anh T đưa ra là:

Năm 1974 ông bà nội anh T là cụ Y và cụ T3 cùng với bố anh T là ông T4 xây dựng nên ngôi nhà gỗ mái ngói 4 gian. Sau khi xây xong thì cụ Y, cụ T3 và bà H4 ở trên ngôi nhà này. Còn ngôi nhà trong làng B cụ cho gia đình ông T4 là con trai cả ở. Ngôi nhà gỗ 4 gian vợ chồng anh T, chị K tu bổ sửa chữa như hiện nay. Gồm 01 gian làm nhà ăn (tu sửa năm 2013) và 3 gian làm nhà thờ (tu sửa năm 2022).

Lúc cụ Y và T3 còn sống thì 2 cụ nói với mọi người là cho bà H4 nhà đất này vì bà H4 không có chồng con, nếu ai chăm lo cho bà H4 thì sẽ được ở và không được bán, không được chia mà để làm nhà thờ.

Sau khi cụ Y chết năm 1996 và cụ T3 chết năm 2000 thì bà H4 là người quản lý sử dụng, trông coi nhà đất này.

Đến năm 2007 bà H4 chết, vợ chồng anh T và 2 con ra ở từ đó đến nay.

Do vậy, anh T xác định 232,9m2 đất di sản của bà H4 chết đi để lại. Trước khi chết, bà H4 có lập di chúc để lại toàn bộ di sản 232,9m² đất cho vợ chồng anh T. Anh T đề nghị Toà án: Chia di sản thừa kế của bà H4 để lại theo di chúc cho vợ chồng anh diện tích 232,9m² đất;

Đối với diện tích còn lại 217,5m² đất là do vợ chồng anh T khai hoang cải tạo, tân đất và chặt búi tre từ năm 1996 đến khi bà H4 chết và sử dụng ổn định từ đó đến nay không tranh chấp với ai.

Tài sản trên đất hiện nay (sau khi trừ đi ngôi nhà cấp 4, bốn gian) là do vợ chồng anh T xây dựng gồm:

  • 01 ngôi nhà 2 tầng, tầng 1 đổ trần, tầng 2 lợp mái tôn, xây dựng năm 2008. Diện tích 48,2m2 1 sàn. Sân gạch diện tích 90m² xây dựng năm 2008.
  • 01 nhà ăn mái tôn khung sắt diện tích 35,4m² xây dựng năm 2022.
  • 01 nhà vệ sinh, nhà tắm đổ trần, diện tích khoảng 9,8m². Bán mái tôn rộng khoảng 9,9m² xây dựng năm 2012. Bán mái tôn 45m² xây dựng năm 2021. 01 mái Pro xi măng xây dựng năm 2015.
  • 01 mái tôn khung sắt để chứa đồ, diện tích khoảng 62,5m² và bán mái tôn diện tích 14,6m2 xây dựng năm 2021.
  • Cổng sắt 5m² làm năm 2007.
  • 01 cây nhãn trồng năm 1996.
  • Tường bao xây gạch.

Năm 2022 vợ chồng anh T đã tu bổ sửa chữa lại ngôi nhà thờ. Hiện nay thờ cụ Y, cụ T3. Bố anh T là ông T4 là con trưởng và anh T cũng là con trưởng nên có nghĩa vụ trông coi, quản lý và thờ cúng.

Toàn bộ công trình xây dựng và tu bổ nhà thờ là do tiền của vợ chồng anh T xây dựng, các con anh T không có đóng góp gì.

Tại phiên toà, anh Bùi Thế T giữ nguyên yêu cầu phản tố về việc:

Đề nghị Tòa án xác định 232,9m² đất là di sản của bà H4 để lại đồng thời yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bà H4 để lại theo di chúc.

Đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² là sử dụng hợp pháp của anh T và chị K do khai hoang.

Theo quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Nếu phải chia thì đề nghị Toà án chia cho ông X phía đất có ngôi nhà cấp 4, còn vợ chồng ông nhận phía có ngôi nhà 2 tầng do vợ chồng ông tạo lập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị K có mặt tại phiên tòa trình bày ý kiến như sau: Nhất trí với lời trình bày của chồng chị là anh Bùi Thế T. Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông X. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Anh Đ và chị Bùi Thị H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày như sau:

Anh Đ và chị H2 là con của anh T và chị K. Anh Đ và chị H2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X. Anh Đ và chị H2 nhất trí với lời trình bày và yêu cầu phản tố của bố anh chị là Bùi Thế T. Toàn bộ công trình xây dựng trên đất và tu sửa nhà gỗ cấp 4 bốn gian là do bố mẹ anh Đ và chị H2 bỏ tiền ra tu sửa. Anh Đ và chị H2 không có đóng góp gì. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của Bùi Thế T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Hữu H5 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày như sau:

Anh H5 là con của ông T4 và bà G. Anh H5 thống nhất với lời trình bày của ông X và anh T về ngày sinh và ngày chết của cụ Y, cụ T3 và ông T4 và bà G; về các con do cụ Y và cụ T3 sinh ra, các con do ông T4 và bà G sinh ra; về hàng thừa kế của những người đã chết.

Anh H5 đề nghị Toà án chia cho 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Y và cụ T3 gồm ông T4, bà N, ông X và bà H4 mỗi người được 1/4 di sản. Anh H5 không đồng ý với khởi kiện của ông Bùi Hữu X về việc xác định hàng thừa kế gồm 3 người và chia thừa kế cho 3 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Y và cụ T3 gồm ông T4, bà N, ông X mỗi người được 1/3 di sản. Ông T4 chết không để lại di chúc nên di sản của ông T4 được hưởng đề nghị chuyển tiếp cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N có mặt tại phiên tòa trình bày như sau:

Bà N không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh T. Với lý do: Di chúc của bà H4 không hợp pháp do bà H4 không có quyền về tài sản vì bà H4 chưa được cụ Y và cụ T3 tặng cho; hàng thừa kế của hai cụ chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế cho bà H4. Diện tích 217,5m² không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T và chị K mà thuộc di sản thừa kế của cụ Y và cụ T3 chết đi để lại. Anh T và chị K không hề khai hoang. Khi gia đình anh T ra ở thì cụ T3 và bà H4 đã xây tường bao rồi.

Bà N không đồng ý với yêu cầu của anh Bùi Thế H1 yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 chết đi để lại cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Y và cụ T3 là ông X, bà N, bà H4 và ông T4 mỗi người được ¼ giá trị tài sản. Bà N không đồng ý chia cho bà H4. Bà N chỉ đồng ý chia cho 3 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Y và cụ T3 gồm: ông X, bà N và ông T4 mỗi người được 1/3 di sản. Với lý do: bà H4 không có quyền về tài sản vì bà H4 chưa được cụ Y và cụ tý tặng cho; hàng thừa kế của hai cụ chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế cho bà H4.

Bà N nhất trí với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông X.

Bố bà là cụ Bùi Thế Y sinh năm 1906, chết năm 1996.

Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị T3 sinh năm 1913, chết năm 2000.

Cụ Y và cụ T3 sinh được 5 người con gồm:

  1. Bà Bùi Thị N1, sinh năm 1937, chết năm 1968.
  2. Ông Bùi Thế T4, sinh năm 1940, chết năm 2014.
  3. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1951.
  4. Bà Bùi Thị H4, sinh năm 1953, chết năm 2007.
  5. Ông Bùi Hữu X, sinh năm 1956.

Cụ Y và cụ T3 chết đi có để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà 4 gian cấp 4 nhà gỗ mái ngói.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị M, chị Bùi Thị V và chị Bùi Thị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày như sau:

Chị M, chị V và chị C là con của ông T4 và bà G. Các chị thống nhất với lời trình bày của ông X và anh T về ngày sinh và ngày chết của cụ Y, cụ T3 và bố mẹ các chị là ông T4 và bà G; về các con do cụ Y và cụ T3 sinh ra, các con do ông T4 và bà G sinh ra; về hàng thừa kế của những người này.

Việc ông Bùi Hữu X khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, quan điểm của chị M, chị V và chị C là trường hợp các chị được chia thừa kế thì các chị đồng ý nhận và tặng cho lại anh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã V do ông Nguyễn Đại L1, chức vụ: Chủ tịnh là đại diện văng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản trình bày ý kiến như sau:

Thửa đất đang tranh chấp là thửa số 218, tờ bản đồ số 22, diện tích 472,6m² địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất này chưa được cấp Giấy CNQSDĐ. Do đó, để thu thập các nội dung liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất... đề nghị Tòa án liên hệ UBND phường V được cung cấp thông tin.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND phường V do ông Nguyễn Xuân T2- Chức vụ: Chủ tịch là đại diện theo pháp luật vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày như sau:

Theo hồ sơ sổ sách và bản đồ lưu trữ tại UBND phường V cho kết quả như sau:

Theo bản đồ năm 2003 thì diện tích đất tranh chấp có số thửa là 211, diện tích 398,4m2 mang tên bà Bùi Thị H4.

Theo bản đồ năm 2018 thì diện tích đất tranh chấp có số thửa là 218, tờ bản đồ số 22 diện tích 472,6m² mang tên hộ ông Bùi Xuân T5.

Theo sổ mục kê đất đai năm 2017 được lưu trữ tại UBND xã V thì hộ ông Bùi Xuân T5 có diện tích là 472,6m² thửa đất số 218 trong sổ ghi hộ bà Bùi Thị T6 là ghi không chính xác, chính xác phải ghi là hộ anh Bùi Thế T.

Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 218 tờ bản đồ số 22, diện tích 472,6m² hiện do hộ gia đình anh Bùi Thế T đang sử dụng có nguồn gốc ông cha để lại. Gia đình anh T sử dụng từ khi bà Bùi Thị H4 là cô ruột của anh T chết.

Hiện thửa đất này chưa được cấp giấy CNQSDĐ.

Quá trình anh T sử dụng đất, gia đình anh T đã lấn chiếm khoảng 56,9m² đất. Nguồn gốc đất 56,9m² đất là mương nước và một phần lối đi của thôn. Phần đất này không phải là đất khai hoang. Do chưa xác định được thời điểm lấn chiếm, đề nghị Tòa án không giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho bất cứ cá nhân hộ gia đình nào. Đối với phần diện tích đất còn lại, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập chứng cứ là kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp như sau:

* Về thẩm định tại chỗ:

Thửa đất số 218 tờ bản đồ số 22 có bố cục tiếp giáp như sau:

  • Phía tây giáp đường thôn.
  • Phía nam giáp đường thôn.
  • Phia bắc giáp đường thôn.
  • phía đông giáp hộ nhà anh Nguyễn Văn C2, vợ là chị H3.

* Tài sản trên đất gồm có như sau:

  1. 01 nhà cấp 3 loại 2, xây năm 2008.
  2. 01 nhà cấp 4 loại 2, xây dựng năm 1974, tu sửa năm 2022.
  3. Nhà vệ sinh loại A xây dựng năm 2007
  4. Nhà chứa, xây tường gạch chỉ, mái tôn trên khung sắt
  5. Sân gạch có men
  6. 01 cây nhãn đường kính 3-4m
  7. 01 hầm ga
  8. Nhà chứa xây dựng năm 2007

Về định giá tài sản:

* Về đất ở:

Tỉnh theo giá thị trường thực tế tại địa phương hội đồng định giá xác định giá là 10.000.000 đ/1m2. Diện tích 450,4m2, giá trị 4.504.000.000đ.

* Tài sản trên đất gồm có:

  1. Nhà cấp 3 loại 2 xây năm 2008 giá trị còn lại 40%, định giá 4.900.000đ/1m². Diện tích 48,2m² một tầng, 2 tầng là 96,4m². Giá trị 188.944.000đ.
  2. 01 nhà cấp 4 loại 2 xây năm 1974, sửa chữa năm 2022, giá trị còn lại 80%, định giá 2.850.000đ/1m². Diện tích 41,7m². Giá trị 95.076.000đ.
  3. 01 nhà vệ sinh loại A, xây năm 2007, giá trị còn lại là 35%, định giá là 1.500.000đ/m². Diện tích 9,2m². Giá trị 4.830.000đ
  4. Nhà ăn, tường xây gạch chỉ, mái tôn khung sắt, giá trị còn lại là 80% định giá 2.850.000đ/m². Diện tích 35,4m². Giá trị 80.712.000đ
  5. Mái tôn, làm năm 2009 giá trị còn lại 40%, giá là 140.000đ/m². Diện tích 14,6m². Giá trị 817.600đ.
  6. 01 cổng sắt làm năm 2007, giá trị còn lại là 35%, định giá là 1.060.000đ/m².
  7. 01 bán mái, khung sắt mái tôn, xây năm 2020, giá trị còn lại 80%, giá là 335.000đ/m². Diện tích 45m². Giá trị 12.060.000đ.
  8. 01 nhà chăn nuôi loại C, làm năm 2007, giá trị còn lại là 35%, định giá là 800.000đ/m². Diện tích 21,5m². Giá trị 6.020.000đ.
  9. Trên đất có 01 cây nhãn, tán cây 3-4m, có giá là 785.000đ áp dụng theo quy mô số 62 ngày 09/01/2023 của Sở xây dựng tỉnh B.
  10. 01 hầm biôga, 10 khối, làm năm 2007. Hội đồng định giá định giá là 15.000.000₫
  11. Giếng khoan sâu 45m, làm năm 2007, định giá là 180.000đ/m2 x 45 = 7.650.000₫.
  12. Tường bao, làm năm 2018, xây gạch 110 bổ trụ, cao 2m, giá trị còn lại là 70%, định giá 430.000đ/m2. Diện tích 28,3m². Giá trị 8.518.000đ.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh với những người ký xác nhận vào di chúc cho kết quả như sau:

- UBND phường V cho biết như sau:

Di chúc của bà Bùi Thị H4 lập ngày 06/9/2007 có chữ ký của người lập di chúc bà Bùi Thị H4; của bà Trần Thị M1 (khi đó là trưởng thôn Vân Cốc 1); chữ ký của cán bộ địa chính ông Hoắc Công C3 và có xác nhận của UBND xã V (nay là phường V) do ông Nguyễn Anh T7 phó Chủ tịch ký xác nhận là đúng.

Việc UBND xã V (nay là phường V) ký xác nhận là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Việc ông Bùi Hữu X đề nghị Tòa án tuyên bố vô hiệu di chúc và việc anh Bùi Thế T đề nghị Tòa án công nhận di chúc và chia di sản thừa kế theo di chúc. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bà Trần Thị N2 nguyên là trưởng thôn Vân Cốc 1, hiện là Bí thư tổ dân phố Văn Cốc 1 cho biết như sau:

Ngày 06/9/2007 bà Trần Thị N2 (khi đó là Trưởng thôn Vân Cốc 1) có ký tên vào di chúc của bà Bùi Thị H4. Việc bà Trần Thị N2 ký tên xác nhận vào di chúc là hoàn toàn khách quan, đúng sự thật, không bị ai ép buộc.

Việc bà Bùi Thị H4 lập di chúc để lại tài sản là 200m² đất và một số công trình trên đất và một số vật dụng cho anh Bùi Thế T và vợ chị Bùi Thị K1 là trong tình trạng còn minh mẫn, không bị ai ép buộc. Nguồn gốc đất trên là của bố mẹ bà H4 là cụ Y và cụ T3 để lại.

- Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Văn H6 – tổ trưởng tổ dân phố V cho biết như sau:

Thửa đất của gia đình anh T đang sử dụng là thửa đất số 218, diện tích 472,6m² theo bản đồ đo đạc năm 2018.

Nguồn gốc đất mà anh T và chị K1 đang sử dụng có nguồn gốc từ ông bà nội của anh T là cụ Y và cụ T3 để lại. Cụ Y và cụ T3 sinh được 05 người con là: Bùi Thị N1, Bùi Thế T4, Bùi Thị N, Bùi Thị H4 và Bùi Hữu X. Lớn lên, ông T4, ông X, bà N ra ở riêng; bà N1 và ông T4 đều đã chết. Bà H4 ở trên đất đến năm 2007 thì chết. Từ đó gia đình anh T ở đến nay. Trên đất còn ngôi nhà gỗ mái ngói 4 gian có từ trước khi gia đình anh T đến ở. Ngôi nhà gỗ cũng đã được gia đình anh T tu bổ sửa chữa. Các công trình còn lại do gia đình anh T xây dựng.

Trước khi anh T về ở trên đất thì phía cổng nhà anh T có mương máng của nhà nước. Quá trình sử dụng gia đình anh T đã lấn ra khoảng trên 50m² do mương được Nhà nước xây hẹp lại. Không có việc anh T, chị K1 khai hoang được 217,5m² đất.

Ông X và bà N có tranh luận như sau: Di chúc của bà H4 không hợp pháp do bà H4 không có quyền về tài sản vì bà H4 chưa được cụ Y và cụ T3 tặng cho; hàng thừa kế của hai cụ chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế cho bà H4. A T8 cho rằng 217,5m² đất là do vợ chồng anh T8 khai hoang là không có căn cứ. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông X.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có ý kiến tranh luận như sau: Đề nghị Toà án trích chia công sức đóng góp, tôn tạo di chúc cho vợ chồng anh T8 25% giá trị quyền sử dụng đất; đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 và Điều 49 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện không đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 180; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 623; Điều 624; Điều 625; Điều 627; Điều 630; Điều 634; Điều 643; Điều 650; Điều 651; Điều 659; Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015;

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X: Tuyên bố vô hiệu một phần di chúc của bà Bùi Thị H4 đối với phần diện tích vượt quá phần được hưởng là 110m2. Chia thừa kế của cụ Y, cụ T3 và ông T4 để lại theo pháp luật.

+ Giao cho ông Bùi Hữu X quyền sử dụng 180m² đất (có giá trị 180.000.000 đồng) thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trên đất có 01 nhà ngói diện tích 41,7m2 trị giá 95.076.000 đồng; 01 nhà vệ sinh diện tích 9,8m2 trị giá 4.830.000 đồng; 01 nhà ăn mái tôn trị giá 61.788.000 đồng; 01 mái tôn diện tích trị giá 817.600 đồng; 01 nhà chăn nuôi diện tích 21,5m2 trị giá 6.020.000 đồng; 01 tường bao 28,3m2 trị giá 8.518.000 đồng; 01 hầm biogas trị giá 15.000.000 đồng; 01 giếng khoan trị giá 7.650.000 đồng; 01 cây nhãn trị giá 785.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 200.484.600 đồng. Ông X có nghĩa vụ thanh toán cho anh T8 số tiền 200.484.600 đồng.

+ Giao cho anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K quyền sử dụng 146,5m²; Giao cho anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K quyền sử dụng 54m² thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

+ Anh Bùi Thế H1 được hưởng 18m² đất. Tuy nhiên, do diện tích đất của anh H1 được hưởng ít, không đủ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần giao cho anh T, chị K diện tích đất trên. Anh T, chị K có nghĩa vụ thanh toán số tiền tương đương 18m² x 10.000.000 đồng/m² = 180.000.000 đồng cho anh H1.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn anh Bùi Thế T: Xác định 90m² là di sản của bà H4 và chia di sản thừa kế 90m² đất của bà H4 để lại theo di chúc.

- Không chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Thế T về việc đề nghị công nhận diện tích 217,5m² trong quyền sử dụng 450,4m² thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là sử dụng hợp pháp của vợ chồng anh T, chị K do khai hoang.

- Về chi phí định giá, thẩm định tại chỗ và đo vẽ kỹ thuật tổng cộng 15.000.000 đồng: Buộc anh Bùi Thế T và chị Bùi Thị K1 phải chịu 8.000.000 đồng; ông Bùi Hữu X phải chịu 7.000.000 đồng. Ông X được nhận lại số tiền 8.000.000 đồng khi anh T và chị K1 nộp.

- Về án phí:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Bùi Hữu X.

Anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và 72.180.000₫ (Bẩy mươi mốt triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 39.590.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên;

A Bùi Thế H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.000.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 5.907.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan là chị M, chị C và chị V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai xin vắng mặt tại phiên toà. UBND thị xã V và UBND phường V có ý kiến xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản đối với bị đơn có địa chỉ và đất tranh chấp tại phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Bùi Thế Y sinh năm 1906, chết năm 1996. Cụ Nguyễn Thị T3 sinh năm 1913, chết năm 2000; bà Bùi Thị H4, sinh năm 1953, chết năm 2007. Ông Bùi Thế T4, sinh năm 1940, chết năm 2014. Theo quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản là 30 năm nên Hội đồng xét xử xác định còn thời hiệu khởi kiện.

[2] Về yêu cầu khởi kiện:

- Nguyên đơn ông Bùi Hữu X khởi kiện Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 để lại theo pháp luật là Quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, bốn gian, chia cho 3 người con gồm ông X, bà N và ông T4.

Ông T4 chết không để lại di chúc nên đề nghị chia di sản của ông T4 chuyển tiếp cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc của bà Bùi Thị H4 lập ngày 06/9/2007 là vô hiệu toàn bộ.

- Bị đơn anh Bùi Thế T có yêu cầu phản tố:

Đề nghị Tòa án xác định 232,9m² đất di sản của bà H4 để lại; đồng thời yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bà H4 để lại theo di chúc.

Đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² đất trong quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là sử dụng hợp pháp của anh T và chị K do khai hoang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N có yêu cầu được chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 để lại là Quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, 4 gian. Chia cho 3 người con gồm ông X, bà N và ông T4, mỗi người được 1/3 giá trị di sản. Sau khi được chia, bà N đồng ý nhận và tặng cho lại ông Bùi Hữu X.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Thế H1 có yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 chết đi để lại là Quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, 4 gian. Cụ thể mỗi người được chia như sau: Chia cho 4 người con gồm ông X, bà N, bà H4 và ông T4 mỗi người được 1/4 di sản. Ông T4 chết không để lại di chúc nên đề nghị di sản của ông T4 chuyển chuyển tiếp cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

[3] Về nguồn gốc thửa đất và quá trình sử dụng đất, hội đồng xét xử nhận thấy:

Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất của hộ gia đình anh T đang sử dụng là do cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 để lại nhưng chưa được cấp giấy CNQSDĐ. Tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4 bốn gian do cụ Y và cụ T3 xây dựng. Đây là chứng cứ không phải chứng minh theo như quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Cụ Y và cụ T3 chết đi nhưng không để lại di chúc. Bà H4 chết 2007 có để lại di chúc cho Bùi Thế T và Hoàng Thị K di sản là 200m² đất.

Di sản thừa kế do anh T và chị K đang quản lý sử dụng từ năm 2007 đến nay. Trên đất có 01 ngôi nhà 4 gian cấp 4 nhà gỗ mái ngói do cụ Y và cụ T3 xây dựng từ năm 1974 hiện đã hết giá trị sử dụng; 01 ngôi nhà 2 tầng do anh T, chị K xây dựng năm 2009; 01 ngôi nhà 03 gian cấp 4 do anh T chị K xây dựng năm 2013; 01 bán mái mái tôn khung sắt do anh T chị K xây dựng năm 2020.

[4] Về di sản thừa kế, hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông X xác định di sản thừa kế mà cụ Y và cụ T3 để lại chưa chia là Quyền sử dụng đất đo đạc thực tế là diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, bốn gian. Ông X căn cứ việc cụ Y và cụ T3 chết đi để lại di sản thừa kế nhưng không để lại di chúc. Ông X đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Anh T xác định 232,9m² và một phần (một gian nhà cấp 4) là di sản của bà H4 chết đi để lại. Anh T đề nghị chia di sản thừa kế theo di chúc của bà H4. Phần đất còn lại 217,5m² anh cho rằng do gia đình anh khai hoang nên không đồng ý chia di sản thừa kế phần diện tích này.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ bản đồ năm 2003 thì diện tích đất tranh chấp có số thửa là 211, diện tích 398,3m² mang tên bà Bùi Thị H4. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định di sản thừa kế là diện tích 398,4m² đất.

Các đương sự đều xác định toàn bộ diện tích đất và ngôi nhà cấp 4 là của cụ Y và cụ T3 tạo lập. Anh T cũng thừa nhận nguồn gốc di sản là của 2 cụ nhưng cho rằng 2 cụ lúc còn sống đã cho bà H4 nên thuộc về bà H4; theo di chúc của bà H4 xác định phần bà H4 là 200m² đất, phần của ông X là phần rộng hơn là 227m² và 3 gian nhà cấp 4. Việc anh T xác định diện tích 232,9m² đất và một phần (một gian nhà cấp 4) là di sản của bà H4 chết đi để lại. Phần đất còn lại 217m2 đất do anh T và chị K khai hoang là không có căn cứ.

[5] Xét di chúc của bà H4 lập ngày 06/9/2007:

Di chúc của bà H4 được lập thành văn bản có chữ ký của người để lại di sản là bà H4, có xác nhận của ban lãnh đạo thôn và địa chính xã. Có xác nhận của UBND xã V; còn thời hiệu để chia thừa kế nên xác định về hình thức là hợp pháp theo như quy định tại Điều 623, Điều 624 và Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 Về nội dung: bà H4 để lại di chúc đã vượt quá phần di sản mà mình được hưởng nên phần vượt quá không có hiệu lực và bị vô hiệu.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện:

[6.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc của bà Bùi Thị H4 lập ngày 06/9/2007 là vô hiệu toàn bộ với lý do: Bà H4 không có quyền về tài sản vì bà H4 chưa được cụ Y và cụ T3 tặng cho; hàng thừa kế của hai cụ chưa có văn bản phân chia di sản thừa kế cho bà H4.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015định Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Ngày người để lại tài sản là ngày cụ Y chết năm 1996 và cụ T3 chết năm 2000. Vào thời điểm này bà H4 chưa chết và tài sản vẫn còn và bà H4 không thuộc các trường hợp không được nhận di sản theo như quy định tại khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015Bà Hoa là hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản, có quyền được hưởng di sản của người chết để lại nên có quyền để lại phần di sản mà mình được hưởng cho anh T.

Phần di sản mà bà H4 được hưởng chỉ tương đương 1/4 giá trị di sản của cụ Y và cụ T3 để lại sau khi trừ đi công sức đóng góp của vợ chồng anh T. Bà H4 chỉ được quyền để lại cho anh T 1/4 giá trị di sản của cụ Y và cụ T3 để lại. Việc bà H4 để lại 200m² đất cho anh T và chị K là vượt quá quyền của mình. Phần vượt quá là không có hiệu lực theo như quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015Do vậy, cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông X, tuyên bố di chúc của bà H4 để lại vô hiệu một phần.

[6.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn anh Bùi Thế T đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng 232,9m² đất là di sản của bà H4 để lại đồng thời yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bà H4 để lại theo di chúc.

Bà H4 được quyền để lại cho anh T 1/4 giá trị di sản của cụ Y và cụ T3 để lại nên cần chấp nhận một phần yêu cầu của anh T về việc chia di sản thừa kế theo di chúc của bà H4 đối với phần diện tích mà bà H4 được hưởng là 90m² đất.

[6.3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn anh Bùi Thế T đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² đất trong quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là sử dụng hợp pháp của anh T và chị K do khai hoang.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X và đề nghị của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N về việc yêu cầu Tòa án Chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 để lại theo pháp luật là Quyền sử dụng diện tích 450,4m2 đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, bốn gian, chia cho 3 người con gồm ông X, bà N và ông T4.

Ông T4 chết không để lại di chúc nên đề nghị chia di sản của ông T4 được hưởng chuyển tiếp cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Xét yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Thế H1 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Bùi Thế Y và cụ Nguyễn Thị T3 chết đi để lại là Quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: TDP V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ngôi nhà cấp 4, 4 gian chia cho 4 người con gồm ông X, bà N, bà H4 và ông T4 mỗi người được 1/4 di sản. Ông T4 chết không để lại di chúc nên yêu cầu chia di sản của ông T4 được hưởng chuyển tiếp cho hàng thừa kế của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ bản đồ năm 2003 thì di sản thừa kế là diện tích 398,4m² đất. Tuy nhiên, sau khi xác định lại ranh giới với hộ gia đình anh C1 và chị H3 thì diện tích còn lại của di sản là 397,6m² đất. Phần diện tích đo đạc thực tế mà hộ anh T đang sử dụng là 450,4m², tăng 52,8m².

Căn cứ vào ý kiến của UBND phường V; ý kiến của tổ trưởng tổ dân phố V; lời khai của ông X, bà N thì hộ anh T đã lấn chiếm 52m² phần phía cổng nơi tiếp giáp với mương nước. Tuy nhiên, phần diện tích 11,1m² gia đình anh T đã cắt cho gia đình anh Nguyễn Văn C1 sử dụng để lấy 10,3m². Tại phiên toà anh T và chị K vẫn giữ nguyên quan điểm đã đổi và mong muốn được thực hiện ranh giới hai bên như hiện nay; ông X cũng đồng ý với ranh giới như hiện nay nên cần ghi nhận sự thoả thuận này theo như quy định tại Điều 180 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.” Diện tích đo đạc thực tế là 450,4m². Quá trình sử dụng, gia đình anh T đã sử dụng lấn ra mương nước do mương nước của nhà nước không còn sử dụng với diện tích 52,8m². Do vậy, Hội đồng xét xử chỉ chia thừa kế đối với 397,6m² đất theo như bản đồ năm 2003 và theo như các bên đã xác định ranh giới. Do anh T và chị K có công sức tôn tạo, gìn giữ di sản nên anh T và chị K được trích chia công sức tương đương 37,6m². Sau khi trừ đi công sức đóng góp thì di sản còn lại được chia là 397,6m² – 37,6m² = 360m². Do diện tích 52,8m² đã được vợ chồng ông T xây dựng công trình trên đất nên cần tạm giao diện tích này cho người được chia phần đất liền kề.

Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Y và cụ T3 gồm ông T4, bà N, bà H4 và ông X, mỗi người được 1/4 giá trị di sản tương đương 90m².

Ông T4 chết không để lại di chúc nên chia di sản của ông T4 để lại chuyển tiếp cho hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 gồm Bùi Thế T, Bùi Thế H1, Bùi Thị C, Bùi Thị V và Bùi Thị M mỗi người được 1/5 di sản. cụ thể: 90m² : 5 = 18m².

Do chị C, chị V và chị M đề nghị chia nhưng tặng cho lại anh T.

Do bà H4 chết để lại di sản mà bà được hưởng cho anh T và chị K là 90m². Phần diện tích mà bà H4 di chúc lại cho vợ chồng anh T vượt quá là 200m² – 90m² = 110m².

Sau khi chia thì mỗi người được hưởng như sau:

Bà N được hưởng 90m² đất

Ông X được hưởng 90m² đất. Do bà N tặng cho lại ông X phần di sản bà N được hưởng nên ông X được hưởng 180m².

Giao cho ông X được hưởng 180m² đất cùng toàn bộ tài sản trên đất. Ông X phải có nghĩa vụ trích trả lại vợ chồng anh T và chị K toàn bộ giá trị tài sản trên đất. Tài sản trên đất cụ thể như sau:

  • 01 nhà cấp 4 loại 2 xây năm 1974 đã hết khấu hao; năm 2022 vợ chồng anh T sửa chữa, giá trị còn 95.076.000đ.
  • 01 nhà vệ sinh giá trị còn lại 4.830.000đ.
  • Nhà ăn giá trị còn lại 61.788.000đ.
  • Mái tôn, làm năm 2009 giá trị còn lại 817.600đ.
  • 01 nhà chăn nuôi, giá trị còn lại là 6.020.000₫.
  • 01 cây nhãn, tán cây 3-4m, có giá là 785.000đ.
  • 01 hầm biôga giá trị là 15.000.000₫.
  • Giếng khoan sâu 45m, giá trị 7.650.000đ.
  • Tường bao, làm năm 2018, giá trị còn lại 8.548.400đ.

Tổng cộng: 200.484.600 đồng.

Anh H1 được hưởng 18m² đất. Do không đủ diện tích để cấp quyền sử dụng đất nên cần giao diện tích này cho vợ chồng anh T, vợ chồng anh T có nghĩa vụ trích trả anh H1 bằng tiền theo như đơn giá đã định là 18m² đất x 10.000.000đ/m² = 180.000.000đ.

Anh T và chị K được hưởng:

18m² đất + 90m² đất (của bà H4 di chúc để lại) + 37,6m² đất (công sức đóng góp) + 54m² đất (Do chị C, chị M và chị V tặng cho) + 18m² (đất của anh H1) = 217,6m².

Tạm giao cho anh T và chị K quyền sử dụng 50,2m².

Tạm giao cho ông X quyền sử dụng 0,6m² đất + 2,2m² đất = 2,6m²

[7] Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Hữu X, anh Bùi Thế T, chị Nguyễn Thị K2, anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H3 về việc xác định lại ranh giới đất giữa đất mà ông Bùi Hữu X được giao với hộ liền kề là anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H3 là bức tường gạch dài 14,15m; cao 2m.

[8] Về số tiền chi phí định giá, thẩm định tại chỗ và hợp đồng đo đạc kỹ thuật tổng cộng 15.000.000 đồng. Cần buộc mỗi bên phải chịu phần trăm số tiền này tương đương phần trăm giá trị tài sản được hưởng.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh T và chị K2 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm của giá trị tài sản mà vợ chồng anh được hưởng là 199,6m² x 10.000.000đ/m² = 1.996.000.000đ.

Anh H1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm của giá trị tài sản mà anh được hưởng là 18m² đất x 10.000.000đ/m² = 180.000.000đ.

Miễn án phí cho ông Bùi Hữu X do là người trên 60 tuổi.

[10] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 180; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 623; Điều 624; Điều 625; Điều 627; Điều 630; Điều 634; Điều 643; Điều 650; Điều 651; Điều 659; Điều 660 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X về việc chia thừa kế của cụ Bùi Thế Y, cụ Nguyễn Thị T3 và chuyển tiếp di sản thừa kế của ông Bùi Thế T4 để lại theo pháp luật.

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu X. Tuyên bố vô hiệu một phần di chúc của bà Bùi Thị H4 đối với phần diện tích vượt quá phần mà bà Bùi Thị H4 được hưởng là 110m².

  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Bùi Hữu H5 về việc chuyển tiếp phần di sản thừa kế của ông Bùi Thế T4 để lại theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Bùi Thế T4.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Bùi Thế T.

    Xác định 90m² đất là di sản thừa kế của bà Bùi Thị H4 và chia di sản thừa kế 90m² đất của bà Bùi Thị H4 để lại theo di chúc.

    Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn anh Bùi Thế T về việc đề nghị Tòa án công nhận diện tích 217,5m² đất trong quyền sử dụng diện tích 450,4m² đất, thửa số 218, tờ bản đồ số 22 địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là sử dụng hợp pháp của anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K.

  4. Giao cho ông Bùi Hữu X quyền sử dụng 180m² đất thuộc vị trí 2 (có giá trị 1.800.000.000đ) thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 22 đo đạc năm 2018, địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (có ký hiệu là A25; A2; A17; A16; A19; A20; A13; A1). Tạm giao cho ông X quyền sử dụng 0,6m² đất + 2,2m2 đất = 2,6m² (có ký hiệu là A1; A13; A13 và A2; A4; A16; A17). Ông Bùi Hữu X phải có nghĩa vụ trích trả anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K số tiền 200.484.600 đồng (Hai trăm triệu bốn trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm đồng) giá trị tài sản trên đất.

    Giao cho anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K quyền sử dụng 217,6m² đất thuộc vị trí 2 (có giá trị là 2.176.000.000đ) thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 22 đo đạc năm 2018, địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (có ký hiệu là A13; A20; A19; A16; A15; A14). Tạm giao cho anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K quyền sử dụng 50,2m² (có ký hiệu là A4; A5; A6; A7; A8; A9; A10; A11; A12). Anh Bùi Thế T và chị Hoàng Thị K có nghĩa vụ trích trả anh Bùi Thế H1 số tiền 180.000.000đ giá trị di sản mà anh H1 được chia.

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Hữu X, anh Bùi Thế T, chị Nguyễn Thị K2, anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H3 về việc xác định lại ranh giới đất giữa đất mà ông Bùi Hữu X được giao với hộ liền kề là anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H3 là bức tường gạch dài 14,15m; cao 2m (có ký hiệu là A25; A2)

    (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  6. Về chi phí định giá, thẩm định tại chỗ và đo vẽ kỹ thuật: Buộc anh Bùi Thế T và chị Bùi Thị K1 phải chịu 8.000.000đ; ông Bùi Hữu X phải chịu 7.000.000đ. Ông X được nhận lại số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) khi anh T và chị K1 nộp.
  7. Về án phí:

    Buộc anh Bùi Thế T và chị Nguyễn Thị K2 phải chịu 71.880.000đ án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản thừa kế được chấp nhận và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về công nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Tổng cộng 72.180.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ theo Biên lai số 0007035 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V) và 39.290.000đ theo Biên lai số 0003479 ngày 04/6/2024 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Anh Bùi Thế T và chị Nguyễn Thị K2 còn tiếp tục phải nộp 32.290.000₫ (Ba mươi hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Buộc ông Bùi Thế H1 phải chịu 9.000.000đ (Chín triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 5.907.000đ theo Biên lai số 0003497 ngày 14/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Anh Bùi Thế H1 còn tiếp tục phải nộp 3.093.000₫ (Ba triệu không trăm chín mươi bả nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Miễn án phí cho ông Bùi Hữu X do trên 60 tuổi.

  8. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • CCTHA-DS thị xã Việt Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 41/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger