TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số:41/2024/HS -ST
Ngày: 15 - 05 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt
Ông Đinh Quang Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HSST ngày 26 tháng 04 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST- HS ngày 04/05/2024 đối với bị cáo:
Chu Quang M, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố số B, Á, phường T, thị xã S, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 09/12. Con ông: Chu Quang M1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T; Vợ con chưa có.
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 13/3/2013, bị Chủ tịch UBND thị xã S áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng..
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023, hiện đang tạm giam tại trại giam S1 Công an thành phố H; có mặt tại phiên toà.
- Bị hại.
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Số I N, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Danh S; Trợ giúp viên pháp lý; Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 7/2023, Chu Quang M, sinh năm 1986, ở TDP B Á, phường T, thị xã S vào làm việc tại khu dự án khách sạn Đ, thuộc thôn Đ, xã S, thị xã S do bà Hoàng Thanh B, sinh năm 1972, trú ở Số G L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội làm giám đốc). Năm 2009, bà B cho ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1959, hiện không rõ ở đâu (là chồng bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953, ở số I, phố N, phường N, thị xã S) thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 768123 mang tên ông T1, bà H để vay 145.000.000 đồng, với lãi suất 1.300 đồng/ngày nhưng sau khi vay tiền thì ông T1 không trả tiền cho bà B.
Theo Chu Quang M trình bày: Sáng ngày 08/9/2023, bà Nguyễn Thị B1 bảo M đi đến nhà bà Nguyễn Thị H để đòi nợ. M điều khiển xe máy Yamaha Sirius, màu đỏ-bạc, biển kiểm soát: 33P5-1553 đến trước cửa nhà bà H. Lúc này bà H vừa đi rút 6.500.000 đồng tại Ngân hàng B3 chi nhánh ở phố P, phường L, thị xã S rồi cất vào trong ví cùng khoảng số tiền 200.000 đồng của bà H rồi đi về nhà (trên đường về bà H mua thuốc uống hết 360.000 đồng). Sau khi về đến nhà thì bà H ngồi ở trước cửa nhà nói chuyện với hai người hàng xóm là chị Trần Thu T2, sinh năm 1981 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1953 đứng ngoài đường. Thấy vậy, M dựng xe trước cửa nhà bà H1 rồi xuống xe đi đến hỏi bà H1 là: “Cô có trả tiền cho cô B1 cháu không”. Bà H1 đáp: “Có nợ ai đâu mà trả tiền”. Trước đó M đã đến gặp bà H1 đòi tiền nhiều lần nhưng bà H1 không trả. Do vậy, Mạnh tức nên lao đến dùng tay trái bóp cổ bà H1, đánh cùi trỏ phải vào giữa lưng của bà H1, dùng tay phải tát vào tai phải của bà H1 làm bà H1 ngã ra nền nhà. M lại dùng gót chân phải đánh vào hông của bà H1 thì bà H1 vẫn cầm ví đựng tiền vùng dậy bỏ chạy ra ngoài đường ngõ C, phố N hô hoán “cứu tôi với, báo Công an” rồi ngã ra đường. M đuổi theo dùng hai tay giật lấy chiếc ví đựng tiền từ tay của bà H1 rồi mở ví ra kiểm tra và lấy 5.500.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng); M ném lại 742.000 đồng tiền lẻ (gồm nhiều mệnh giá khác nhau) cùng chiếc ví của bà H1 xuống đường. Sau đó, M điều khiển xe máy đi về khu dự án Đồi V ở thôn V, xã S, thị xã S. Trên đường đi, M gọi điện, nhắn tin cho bà B1 nói là “nhà T1 H1 chuyển 5.500.000 đồng”, bà B1 nhận được tin nhắn của M thì nhắn lại là “OK”. Khi về đến khu dự án khách sạn Đ thì M nói cho anh Lâm Huy T3, sinh năm 1985, ở TDP G, phường T, thị xã S là quản lý khu dự án khách sạn Đồi Vua biết là đã đến nhà bà H1 đòi được 5.500.000 đồng. T3 gọi điện thoại thông báo cho bà B1 và bảo bà B1 là Thục giữ số tiền này. Bà B1 đồng ý nên M đưa cho T3 5.500.000 đồng.
Bà H1 đến Công an phường N trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã tiến hành xác minh và bắt khẩn cấp Chu Quang M.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm, xác định hiện trường vụ án. Xem xét dấu vết trên thân thể bà H1. Thu giữ vật chứng gồm:
- Thu giữ của bà Nguyễn Thị H gồm:
+ 01(một) chiếc ví da, màu nâu, có kéo khoá ngang màu vàng, kích thước khoảng 11,5x7cm. Đây là ví của bà H mua vào khoảng năm 2021 với giá 5.000 đồng.
+ 742.000 đồng (Bảy trăm, bốn mươi hai nghìn đồng) là tiền của bà H mà M vứt lại.
+ 01(một) bản phô tô căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H.
- Thu giữ của anh Lâm Huy T3 gồm:
+ 01(một) túi vải bông màu vàng xanh, kích thước 15x15cm có dây đeo màu vàng (là của M).
+ 01(một) điện thoại Samsung A04, màu tím, số Imeil: 351778738808514, số I: 351778738808512. Bên trong lắp 02 sim, đã qua sử dụng, (là của T3).
+ 01(một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, số seri 1: 35211545825899, bên trong lắp sim số: 0877491539, điện thoại đã qua sử dụng. (là của M đã dùng trao đổi với bà B1 về việc lấy được tiền của bà H).
+ 01(một) điện thoại nhãn hiệu Oppo F9, màu tím, số Imei 1: 865892041041298, số Imei 2: 865892041041280, bên trong không lắp sing, điện thoại đã qua sử dụng. (là của M).
+ 01(một) thẻ sim bên trên có số 8984048000915857950.(là của M)
+ 01(một) thẻ căn cước công dân số: [...], mang tên Chu Quang M.
+ 01(một) đăng ký mô tô xe máy, số: 016135, mang tên Khuất Thị T4.
+ Số tiền: 5.637.000 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Trong đó có 5.500.000 đồng là tiền M chiếm đoạt của bà H và 137.000 đồng là tiền của M.
+ 01(một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-bạc, mang biển kiểm soát: 33P5-1553; số khung: RLC55C6107Y131193, số máy: 5C61-113193, đã qua sử dụng. (là của M)
Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (một) chiếc ví da màu nâu, có khoá kéo ngang màu vàng kích thước 11,5x7cm, đã qua sử dụng. Ngày 09/10/2023, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thị xã S văn bản số: 284 xác định: chiếc ví trên được mua vào năm 2021 với giá 5.000 đồng đến nay đã hết giá trị và không có khả năng giao dịch trên thị trường, chủ tài sản từ chối định giá nên không định giá.
Trong khi thực hiện hành vi phạm tội thì M có dùng chân tay đánh vào người và bóp cổ bà H. Tuy nhiên, do thương tích không nặng và không ảnh hưởng đến sức khỏe nên bà H từ chối giám định và không yêu cầu cầu M bồi thường gì về dân sự.
Tại bản kết luận giám định số: 8101/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: số khung, số máy của chiếc xe máy Yamaha Sirius, mang biển kiểm soát: 33P5- 1553, sơn màu đỏ-bạc là số nguyên thuỷ. Qua tra cứu xác định chiếc xe máy trên không phải là xe vật chứng.
Cơ quan điều tra xác định: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-bạc, mang biển kiểm soát: 33P5-1553 (kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Khuất Thị T4) là của anh Chu Quang H2, sinh năm 1984, ở Tổ D, T, phường Q, thị xã S mua năm 2021 của một người không quen biết, với giá 10.000.000 đồng. Tháng 3/2023, anh H2 bán lại chiếc xe trên cùng giấy đăng ký xe cho M với giá 2.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 5.500.000 đồng mà M đã chiếm đoạt. Trả lại cho anh Lâm Huy T3 01(một) chiếc điện thoại Samsung A04, màu tím không liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra xác định: Bà Nguyễn Thị H, sinh ngày: 16/3/1953 (tính đến ngày 08/9/2023 thì bà H đã đủ 70 năm 05 tháng 24 ngày tuổi). Căn cứ điểm a tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì bà H là “Người quá già yếu”.
Quá trình điều tra xác định: Sau khi cướp được 5.500.000 đồng của bà H thì M có nhắn tin và gọi điện thông báo cho bà Hoàng Thanh B biết. M cũng nói cho Lâm Huy T3 biết việc M đến nhà bà H đòi được 5.500.000 đồng thì T3 gọi điện báo với bà B và nói T3 giữ lại số tiền này. Bà bình đồng ý. Tuy nhiên, Hoàng Thanh B và Lâm Huy T3 không thừa nhận đã bảo M đi đòi nợ và không chỉ đạo M đánh bà H để chiếm đoạt 5.500.000 đồng.
Xét thấy cần làm rõ Hoàng Thanh B và Lâm Huy T3 có liên quan đến hành vi phạm tội của M hay không để xử lý theo quy định. Do vậy, ngày 04/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến B và T3 cùng 01(một) điện thoại Oppo F9 màu tím, số Imei 1: 865892041041298; số Imei 2: 865892041041280, bên trong không lắp sim, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc điện thoại Nokia 105, màu đen, số seri 1: 35211545825899, bên trong lắp sim số: 0877491539, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của M) để khôi phục dữ liệu, tiếp tục xác minh theo thủ tục giải quyết tin báo.
Bản cáo trạng số 46/CT- VKS ngày 24 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Chu Quang M về tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Chu Quang M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi Cướp tài sản mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo Chu Quang M về tội “Cướp tài sản” và đề nghị: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Quang M từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu xung công xe máy BKS 33P5 -1553 (kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Khuất Thị T5); Trả lại cho M 137.000đ là tiền của M; 01 căn cước công dân, 01 túi của M. Trả lại cho bà H 742.000đ là tiền của bà H mà M vứt lại, 01 chiếc ví da. Bảo thủ sim và điện thoại của M để phục vụ điều tra vụ án đã tách ra.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đồng ý với nội dung truy tố và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho M do có ảnh hưởng một phần về nhận thức vì trước đó có đi điều trị tâm thần sau cai nghiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Quang M không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo và lời khai của bị hại, người làm chứng và những người có liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Sáng ngày 08/9/2023, M điều khiển xe máy Yamaha Sirius màu đỏ- bạc, biển kiểm soát 33P5 - 1553 đến trước cửa nhà bà H. Lúc này bà H vừa đi rút 6.500.000đ tại Ngân hàng B3 chi nhánh ở phố P, phường L, thị xã S rồi cất vào trong ví cùng khoảng số tiền 200.000đ của bà H rồi đi về nhà (trên đường về, bà H mua thuốc uống hết 360.000đ). Sau khi về đến nhà thì bà H ngồi ở trước cửa nhà nói chuyện với hai người hàng xóm là chị Trần Thu T2 và bà Lê Thị H1 đứng ngoài đường. Thấy vậy, M dựng xe trước cửa nhà bà H1 rồi xuống xe đi đến hỏi bà H1 là: “Cô có trả tiền cho cô B cháu không”. Bà H1 đáp: “Có nợ ai đâu mà trả tiền”. Trước đó, M đã đến gặp bà H1 đòi tiền nhiều lần nhưng bà H1 không trả. Do vậy, Mạnh tức nên lao đến dùng tay trái bóp cổ bà H1, đánh cùi trỏ phải vào giữa lưng của bà H1, dùng tay phải tát vào tai phải của bà H1 làm bà H1 ngã ra nền nhà. M lại dùng gót chân phải đánh vào hông của bà H1 thì bà H1 vẫn cầm ví đựng tiền vùng dậy bỏ chạy ra ngoài đường ngõ C, phố N hô hoán “cứu tôi với, báo Công an” rồi ngã ra đường. M đuổi theo dùng hai tay giật lấy chiếc ví đựng tiền từ tay của bà H1 rồi mở ví ra kiểm tra và lấy 5.500.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng); M ném lại 742.000đ tiền lẻ (gồm nhiều mệnh giá khác nhau) cùng chiếc ví của bà H1 xuống đường. Sau đó, M điều khiển xe máy đi về khu dự án Đồi V ở thôn V, xã S, thị xã S. Trên đường đi, M gọi điện, nhắn tin cho bà B nói là “nhà T1 H1 chuyển 5.500.000 đồng”, bà B nhận được tin nhắn của M thì nhắn lại là “OK”. Khi về đến khu dự án khách sạn Đ thì M nói cho anh Lâm Huy T3, sinh năm 1985, ở TDP G, phường T, thị xã S là quản lý khu dự án khách sạn Đồi Vua biết là đã đến nhà bà H1 đòi được 5.500.000 đồng. T3 gọi điện thoại thông báo cho bà B và bảo bà B là Thục giữ số tiền này. Bà B đồng ý nên M đưa cho T3 5.500.000 đồng.
Bà H1 tính đến ngày 8/9/2023 là 70 tuổi 05 tháng 24 ngày được xác định là người già yếu.
Đối với Chu Quang M trước đây có nghiện ma túy, sau khi đi cai nghiện về có đi điều trị tại bệnh viện Tâm thần TW1 từ ngày 09/8/2017 đến 27/09/2017 được xác định là rối loạn tâm thần sau cai nghiện (đã ổn định và ra viện) nên xác định khi thực hiện hành vi phạm tội M đủ năng lực và hành vi dân sự.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Chu Quang M đã phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tinh thần, sức khỏe, tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại; Trước đây, bị cáo bị rối loạn tâm thần sau cai nghiện, nhưng đã được điều trị ổn định, tuy nhiên sức khỏe của bị cáo có bị ảnh hưởng tâm thần nên xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu xung công xe máy BKS 33P5 - 1553 (kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Khuất Thị T5); Trả lại cho M 137.000₫ là tiền của M; 01 căn cước công dân, 01 túi của M. Trả lại cho bà H1 742.000₫ là tiền của bà H1 mà M vứt lại, 01 chiếc ví da. Bảo thủ sim và điện thoại của M để phục vụ điều tra vụ án đã tách ra.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Chu Quang M 07 (Bảy) năm tù, về tội “Cướp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/09/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo M.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu xung công xe máy BKS 33P5 -1553 (kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Khuất Thị T5); Trả lại cho M 137.000đ (Một trăm ba mươi bảy nghìn đồng) là tiền của M; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Chu Quang M, 01 túi vải bông có dây đeo của M. Trả lại cho bà H1 742.000đ (bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) là tiền của bà H1 mà M vứt lại, 01 chiếc ví da màu nâu. Tiếp tục bảo thủ thẻ sim có số [...], 0915857950 của M và điện thoại của M để phục vụ điều tra vụ án đã tách ra. (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/04/2024 tại Kho bạc Nhà nước thị xã S của Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Chu Quang M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyền kháng cáo của bị cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
- TAND thành phố Hà Nội; - CA, VKSND thị xã S; - CCTHADS thị xã S; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Trung Thành |
Bản án số 41/2024/HS -ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về cướp tài sản
- Số bản án: 41/2024/HS -ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bc M phạm tội cướp tài sản
