TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
Bản án số:41/2024/HS-ST Ngày 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Anh Tuấn
Bà Trần Thị Trúc Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 3 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 03 tháng 03 năm 1999 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Ngô Thị L; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 18/01/2024, đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Hoàng Thị Diễm M, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2003 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn T1 và bà Đỗ Thị S; chưa có chồng; có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/01/2024, đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2002, nơi cư trú: Thôn K, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1971, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, do không có việc làm ổn định nên Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định tự sản xuất pháo để bán kiếm tiền. T sử dụng giấy từ các quyển vở cũ để làm vỏ pháo, sau đó T đã sử dụng điện thoại di động của mình đăng nhập vào ứng dụng S1, L2 để mua các nguyên liệu gồm: 01 kg giấy màu đỏ được đóng thành 01 thếp, mỗi tờ có kích thước 5cm x 60 cm với giá tiền 230.000 đồng; 0,5 kg KClO3 với giá 110.000 đồng; 0,5 kg Lưu huỳnh với giá 89.000 đồng; 0,5 kg Natri với giá 120.000 đồng và mua tại cửa hàng tạp hóa một số dụng cụ phục vụ cho việc sản suất pháo nổ. Đến ngày 12/01/2024, T bắt đầu tiến hành sản xuất pháo nổ. T pha trộn các hoá chất với tỉ lệ 6 thìa (nhỏ) KClO3 + 5 thìa Natri + 2 thìa lưu huỳnh rồi sử dụng nilon bằng màng bọc thực phẩm và thuốc pháo để làm thành dây dẫn cháy. T sử dụng giấy trắng (từ các quyển vở cũ) quấn quanh 01 chiếc đũa để làm vỏ pháo (mỗi vỏ pháo dài khoảng 5cm) hình trụ tròn. Sau khi quấn xong T rút đũa ra để tạo thành phần rỗng ở lõi bên trong, phần rỗng này sẽ để đổ thuốc pháo vào. T sử dụng giấy màu đỏ dán xung quanh bên ngoài vỏ pháo, rồi dùng keo 502 để dán bịt chặt một đầu, đầu còn lại T đổ thuốc pháo (khoảng ½ thìa) vào trong vỏ pháo, cho một đoạn dây dẫn cháy khoảng 4 cm vào và dán bịt chặt lại để hoàn thành 01 quả pháo nổ. Khi hoàn thiện khoảng từ 60 đến 65 quả pháo, Tuấn kết lại thành 01 tràng dài khoảng 01 mét. Đến ngày 18/01/2024, T đã tự quấn được tổng cộng 06 mét pháo nổ theo cách thức trên. T gửi ảnh chụp pháo nổ thành phẩm cho Hoàng Thị Diễm M nhờ đăng lên facebook “Sam sam” của M để tìm khách mua. M đồng ý và sử dụng tài khoản facebook trên để đăng bài giao bán pháo lên trên mạng xã hội với giá 700.000 đồng/01m. Quá trình M đăng thông tin có 03 (ba) khách hỏi mua và đã thực hiện được các giao dịch, cụ thể:
Lần thứ nhất, vào ngày 14/01/2024, T đưa 02 mét pháo nổ nhờ Trần Văn D, sinh năm 1997 trú tại thôn T, xã A, huyện V, Hải Phòng chở đi giao cho một đối tượng nam giới sử dụng facebook “Thanh Tùng” (chưa xác định nhân thân lai lịch). Khi đi đến khu vực Cầu R, huyện A, thành phố Hải Phòng thì T gặp và đưa trực tiếp cho người này số pháo nổ trên và thu được 1.400.000 đồng, việc chuyển tiền thông qua tài khoản ngân hàng của D. Sau đó D đã đưa tiền cho T và không được hưởng lợi gì từ việc trên. Đối tượng sử dụng facebook “Thanh Tùng” mua pháo của T ngày 14/01/2024 hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Lần thứ hai, vào ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn L1 sinh năm 2002, trú tại thôn K, xã Q, huyện T, Hải Phòng sử dụng facebook “Nguyễn Duy L3” đặt mua 02 mét pháo của T. T đã chuẩn bị 02 mét pháo nổ rồi đưa cho M đi bán. M điều khiển xe mô tô chở Ngô Thị Minh C sinh ngày 11/12/2008, nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, Hải Phòng ngồi sau đi giao pháo nổ cho L3. M gặp và bán số pháo nổ cho L3 tại xã Q, huyện T, Hải Phòng. Số tiền 1.400.000 đồng được L3 chuyển vào số tài khoản 0925.243001 tại Ngân hàng Q mang tên Hoàng Thị Diễm M. Sau đó M đưa lại cho T số tiền trên.
2
Lần thứ ba, vào ngày 18/01/2024, T chuẩn bị 02 mét pháo nổ và mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe màu đỏ, xám, đen Biển kiểm soát 15K1-306.34 cho M và C đi giao pháo cho khách là một nam giới sử dụng facebook “Lê Đức T2” (hiện chưa xác định nhân thân lai lịch). M là người điều khiển xe mô tô chở C ngồi phía sau, túi vải bạt màu hồng, bên trong có chứa 02 mét pháo nổ để ở võng xe. Đến khoảng 20 giờ 20 phút, khi đi đến khu vực vườn hoa chéo phường B, quận K, Hải Phòng, M và C bị tổ công tác Công an phường B kết hợp cùng Đội Cảnh sát giao thông Công an quận K dừng xe mô tô kiểm tra, phát hiện trong túi vải bạt màu hồng trên xe có các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 02 tràng, rồi cuộn thành 02 khối (mẫu M1). Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ tang vật, phương tiện đối với M và C.
Tại Cơ quan điều tra, M đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, ngoài ra, M và C còn khai: M, C, T ở cùng nhà trọ tại thôn T, xã A, huyện V, Hải Phòng; việc giao dịch buôn bán pháo nổ chỉ có T và M thống nhất với nhau, C không tham gia và không có thoả thuận nào với T và M. C chỉ đi cùng M đi bán pháo nổ cho khách vào ngày 17/01/2024 và 18/01/2024. Số tiền bán pháo nổ, M đều đưa lại cho T vì T là người trả tiền thuê nhà và mua đồ ăn sinh hoạt hằng ngày.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét, thu giữ tại chỗ ở của T 01 túi xách bạt bên trong có nhiều cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ, 02 kéo cắt giấy, 01 gói lạt nhựa và 01 lọ keo 502.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Văn L1. Quá trình khám xét, thu giữ của L1 01 túi nilon màu đỏ bên trong chứa các cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ, kết với nhau thành tràng (tổng số 03 cuộn). Tại cơ quan điều tra, L1 khai nhận trong 03 cuộn pháo mà Cơ quan điều tra thu giữ có 02 cuộn pháo (mẫu M2) là L1 mua của M, 01 cuộn pháo (mẫu M3) Lộc mua của Phạm Trung H (sinh năm 2008, nơi cư trú: Chính Nghị, Q, T, Hải Phòng) vào tháng 10/2023. Mục đích mua pháo nổ để đốt vào dịp Tết nguyên đán 2024.
Tại bản Kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 – Công an thành phố H kết luận: “Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 02 tràng, rồi cuộn thành 02 khối của mẫu M1 gửi giám định đều là pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp. Tổng khối lượng: 4,09 kg;
Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 02 tràng của mẫu M2 gửi giám định đều là pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp. Tổng khối lượng: 3,73 kg;
Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn sợi dây dạng dây cháy chậm, được liên kết thành 02 tràng của mẫu M3 gửi giám định đều là
3
pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp. Tổng khối lượng: 0,68 kg”.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSKA ngày 12/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, bị cáo Hoàng Thị Diễm M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị Diễm M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến gì về bản cáo trạng. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị Diễm M đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và việc truy tố xét xử các bị cáo là đúng pháp luật, không oan.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng.
Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Diễm M từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 1.400.000đ tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xám (đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Thị Diễm M); 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 J7 Prime màu xám đen (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T); 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xanh (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L1).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy có dấu niêm phong số 167CN/PC09 là số pháo còn lại sau giám định; 13 cuộn giấy hình trụ tròn vỏ màu đỏ (vỏ ống pháo), 01 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ có lõi (pháo giả định từ thực nghiệm điều tra), 01 thếp giấy đỏ, 01 thếp giấy lộn, 02 kéo cắt giấy, 01 lọ keo, 01 gói lạt nhựa.
- Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
4
+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu tím (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L1).
+ Trả lại anh Nguyễn Văn K 01 xe mô tô màu đỏ xám đen, ghi nhãn hiệu HONDA (WAVE) biển kiểm soát 15K1-306.34.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của kiểm sát viên. Tại phần nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, cả hai bị cáo đều xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn K không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, anh K đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn K.
- Về nội dung:
[3] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng từ đầu tháng 01/2024, do không có việc làm ổn định, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tự nghiên cứu, mua các nguyên liệu trên mạng và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ để thực hiện việc pha chế, chế tạo ra 7,82 kg pháo nổ nhằm mục đích bán kiếm lời cho những người có nhu cầu. Sau khi chế tạo được pháo nổ, ngày 17/01/2024 và ngày 18/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Hoàng Thị Diễm M có hành vi bán 7,82kg pháo nổ cho anh Nguyễn Văn L1 và các đối tượng khác tại các địa bàn huyện T và quận K với giá 700.000đ/01m pháo nổ thì lực lượng Công an phát hiện bắt giữ nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo
5
Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị Diễm M phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo Điều 190 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi tự sản xuất và buôn bán 7,82 kg pháo nổ nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị Diễm M có hành vi buôn bán 7,82 kg pháo nổ nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý kinh tế của nhà nước về hàng cấm. Thời điểm các bị cáo phạm tội gần dịp Tết nguyên đán đã làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về vai trò: Bị cáo T tham gia phạm tội với vai trò cao hơn bị cáo M đối với hành vi Buôn bán hàng cấm: T là người khởi xướng việc mua bán pháo nổ, sau khi sản xuất được pháo nổ, T trực tiếp chụp ảnh và gửi cho M để nhờ M đăng lên mạng tìm kiếm khách hàng mua pháo, số tiền mua bán pháo nổ T là người trực tiếp sử dụng. Bị cáo M tham gia phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo T trong việc buôn bán pháo nổ, M trực tiếp đăng hình ảnh pháo lên mạng để tìm kiếm khách hàng và trực tiếp giao dịch, thoả thuận giá bán và đi giao pháo nổ theo sự chỉ đạo của bị cáo T, trực tiếp thu tiền bán pháo nổ của khách hàng sau đó về đưa lại cho T.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất nghiêm trọng, bị cáo T vừa có hành vi sản xuất vừa có hành vi buôn bán pháo nổ, bị cáo tham gia phạm tội với vai trò cao hơn bị cáo M, ít tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo M, nên để đảm bảo tính công bằng về hình phạt đối với các bị cáo cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo T cao hơn bị cáo M và cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội với khoảng thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt tù có thời hạn tại Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
[10] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo T, bị cáo M mỗi bị cáo mức 20.000.000₫.
6
[11] Về số tiền thu lợi bất chính:
Ngày 17/01/2024, bị cáo T, M đã bán cho anh Nguyễn Văn L1 02 mét pháo với giá 1.400.000đ. Sau khi giao hàng, anh L1 đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng của bị cáo M số tiền 1.400.000đ. Số tiền này, bị cáo M đã đưa lại cho bị cáo T. Như vậy, số tiền 1.400.000đ là tiền thu lợi bất chính do hành vi buôn bán pháo nổ mà có và bị cáo T là người được hưởng lợi nên bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.400.000đ.
[12] Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan công an đã thu giữ:
- 01 hộp giấy có dấu niêm phong số 167CN/PC09 là số pháo còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xám thu giữ của Hoàng Thị Diễm M
- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu xám đen thu giữ của Nguyễn Văn T.
- 01 điện thoại di động iphone 11 màu tím của Nguyễn Văn L1.
- 01 điện thoại iphone 11 màu xanh của Nguyễn Văn L1.
- 01 xe mô tô màu đỏ xám đen, nhãn hiệu HONDA (WAVE) biển kiểm soát 15K1-306.34
- 01 túi xách bạt bên trong có: 13 cuộn giấy hình trụ tròn vỏ màu đỏ (vỏ ống pháo), 01 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ có lõi (pháo giả định từ thực nghiệm điều tra), 01 thếp giấy đỏ, 01 thếp giấy lộn, 02 kéo cắt giấy, 01 lọ keo, 01 gói lạt nhựa.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xám của bị cáo Hoàng Thị Diễm M; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu xám đen của bị cáo Nguyễn Văn T; 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 11 màu xanh của Nguyễn Văn L1 là tài sản của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh L1 sử dụng vào việc mua bán pháo nổ nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu tím của anh Nguyễn Văn L1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh L1.
- Đối với số pháo còn lại sau giám định là hàng cấm nên cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự thành phố H xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với 1 túi xách bạt bên trong có: 13 cuộn giấy hình trụ tròn vỏ màu đỏ (vỏ ống pháo), 01 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ có lõi (pháo giả định từ thực nghiệm điều tra), 01 thếp giấy đỏ, 01 thếp giấy lộn, 02 kéo cắt giấy, 01 lọ keo, 01 gói lạt nhựa là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 xe mô tô màu đỏ xám đen, nhãn hiệu HONDA (WAVE) biển kiểm soát 15K1-306.34: Qua xác minh chủ sở hữu chiếc xe mang tên chị Bùi Thị P, số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không bị tẩy xoá hay sửa chữa các ký tự, chiếc xe cũng không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Lời khai chị P thể hiện chị đã bán chiếc xe cho người đàn ông ở xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng (hiện chị P không nhớ thông tin cụ thể), việc mua bán có lập giấy tờ nhưng chị không còn lưu giữ. Lời khai của anh Lê Công L4 thể hiện anh mua chiếc xe của chị P, có lập giấy tờ mua bán xe, và anh L4 đã bán lại cho
7
anh K. Lời khai của bị cáo T thể hiện đây là chiếc xe bị cáo T mượn của anh Nguyễn Văn K, sau đó đưa cho bị cáo M sử dụng để đi giao pháo nổ cho khách. Quá trình điều tra xác định anh K mua chiếc xe trên từ tháng 12/2023 của anh Lê Công L4 (có giấy mua bán xe viết tay), anh K chưa sang tên giấy đăng ký xe, khi cho bị cáo T mượn xe anh K không biết T sử dụng xe vào mục đích gì, bị cáo T cũng không nói cho anh K biết mượn xe để đi buôn bán pháo nổ nên cần trả lại cho anh K chiếc xe trên.
[13] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[14] Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Văn L1: Đã có hành vi tàng trữ 4,41 kg pháo nổ, chưa đến mức phải xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K chuyển hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận K xử phạt theo thẩm quyền.
Đối với Ngô Thị Minh C: Đã có hành vi tham gia vận chuyển 7,82 kg pháo nổ, có dấu hiệu của tội Vận chuyển hàng cấm quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi C chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C.
Đối với Phạm Trung H: Nguyễn Văn L1 khai mua pháo của H vào tháng 10/2023 (thời điểm này H chưa đủ 16 tuổi) ngoài ra không có chứng cứ tài liệu nào để chứng minh. Hiện nay H vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên chưa đủ căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng sử dụng facebook “Lê Đức T2” đặt mua pháo của M và đối tượng sử dụng facebook “Thanh Tùng” mua pháo của Nguyễn Văn T ngày 14/01/2024 hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Đối với Trần Văn D là người vận chuyển pháo cùng với T vào ngày 14/01/2024 do chưa thu giữ được vật chứng và chưa triệu tập làm việc được với D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Thị Diễm M; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị Diễm M;
- Tuyên bố:
+ Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
+ Bị cáo Hoàng Thị Diễm M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt:
8
+ Bị cáo Nguyễn Văn T: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2024. Phạt tiền bị cáo 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
+Bị cáo Hoàng Thị Diễm M: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2024. Phạt tiền bị cáo 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
2.Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xám (đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Thị Diễm M) IMEI 353983109146597; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 J7 Prime màu xám đen (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T) IMEI 353415088991776; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu xanh (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L1) IMEI 353995104764752.
- Chuyển Bộ chỉ huy quân sự thành phố H xử lý theo thẩm quyền: 01 hộp giấy có dấu niêm phong số 167CN/PC09 là số pháo còn lại sau giám định
- Tịch thu tiêu huỷ: 13 cuộn giấy hình trụ tròn vỏ màu đỏ (vỏ ống pháo), 01 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ có lõi (pháo giả định từ thực nghiệm điều tra), 01 thếp giấy đỏ, 01 thếp giấy lộn, 02 kéo cắt giấy, 01 lọ keo, 01 gói lạt nhựa.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu tím (đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L1) IMEI 352681230907348.
- Trả lại anh Nguyễn Văn K 01 xe mô tô màu đỏ xám đen, ghi nhãn hiệu HONDA (WAVE) biển kiểm soát 15K1-306.34; không có chắn xích dưới, 01 gương.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận: - Bị cáo; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9 - Những người tham gia tố tụng; - VKSND quận Kiến An; - Công an quận Kiến An; - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP.Hải Phòng; - PV06; PC10 Công an TP. Hải Phòng; - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Lưu: HSVA, VT. 10 | Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về sản xuất, buôn bán hàng cấm (theo điều 190 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng cấm (theo Điều 190 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: co tội
