|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm
Ông Cao Văn Hồng Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị N, sinh năm 1991 tại Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (chết) và bà Huỳnh Thị P; có 01 con sinh năm 2006; tiền án: không; tiền sự: 01: Ngày 01/11/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 20 tháng (chấp hành xong ngày 17/01/2023); nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
Bà Đặng Nguyễn Duy T, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 04/01/2024, bị cáo Trần Thị N đi công việc ở khu vực chợ V thì gặp người bạn nam (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực chợ. Lúc này người bạn nam rủ bị cáo N đi xuống nhà người anh ở huyện M, tỉnh Vĩnh Long để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo N đồng ý. Sau đó người bạn nam điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở bị cáo N xuống địa bàn huyện M. Trên đường đi người bạn nam đưa cho bị cáo N 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy loại Heroin và 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy đá và kêu bị cáo N cất giữ. Bị cáo N cất giữ bao thuốc lá có chứa ma túy trên vào bên trong túi áo màu hồng, phía trước bên trái của bị cáo N đang mặc. Khi đến Quán cà phê “6C”, thuộc Khóm A, Thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long thì cả hai ghé vào quán uống cà phê. Khi uống được khoảng 05 phút thì người bạn nam nói với bị cáo N là “Ngồi đợi chút, đi rước ông anh rồi quay lại”. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo N đang ngồi uống cà phê một mình trên vĩa hè của Quán cà phê “6C” thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo N cùng tang vật.
* Tang vật và đồ vật thu giữ gồm:
- - 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy loại Heroin;
- - 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy đá ;
- - 01 (Một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng.
- - 01 (Một) bơm kim tiêm là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại kết luận giám định số: 11/KLGĐ-PC09 ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận như sau:
- - Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc được niêm phong trong bao thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2013 gam, loại Heroin.
- - Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong bao thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0155 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 09/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh tạm giam đối với bị can.
Trong quá trình điều tra bị cáo Trần Thị N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
* Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với chất ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1366 gam còn lại sau khi giám định có liên quan trực tiếp trong vụ án, tiếp tục tạm giữ để xử lý.
- - Đối với 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng và 01 (một) bơm kim tiêm là dụng cụ dùng để tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tiếp tục tạm để xử lý.
- - Đối với người bạn nam (không rõ họ tên, địa chỉ) đã đưa ma túy cho bị cáo N cất giấu để sử dụng. Hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được tiến hành xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS.HMT, ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Trần Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- + Chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam.
- + 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng.
- + 01 (một) bơm kim tiêm.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine và loại Heroin, có tổng khối lượng là 0,2168 gam. Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Trần Thị N về tội danh và điều luật áp dụng như trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, người sử dụng sẽ bị kích thích, ức chế thần kinh, gây hoang tưởng hoặc gây ảo giác. Chất ma túy vẫn đang còn là một vấn đề nhức nhối của xã hội, ma túy đã và đang hủy hoại sức khỏe, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp
luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy:
- - Chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam.
- - 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng.
- - 01 (một) bơm kim tiêm.
[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt ngày 04/01/2024.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- - Chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam.
- - 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT màu trắng.
- - 01 (một) bơm kim tiêm.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/4/2024)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
