Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HSST

Ngày: 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa.

2. Ông Nguyễn Vinh Mậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thuỳ Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST- HS, ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 101/2024/QĐXXST- HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, (tên gọi khác: L; giới tính: Nam); sinh năm 1979 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M (chết) và bà Trần Thị E, sinh năm 1939; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04-5-2018, Công an huyện T, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép; ngày 04-5-2018 nộp phạt xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1968 (chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Bích T1:

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1938; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Chị Trần Ngọc Như Q, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ A, Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

- Chị Trần Ngọc Như H, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

(Là cha và các con bị hại Nguyễn Thị Bích T1).

Người làm chứng:

1. Anh Lưu Quang V, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

2. Anh Trần Văn T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, Nguyễn Minh T (không có giấy phép lái xe hạng A1; theo phiếu đo nồng độ cồn của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T: nồng độ cồn trong hơi thở là 1,023 mg/l, âm tính với ma túy) điều khiển xe mô tô biển số 77Y1-2401 từ phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 77Y1-2401 tham gia giao thông trên đường liên xã hướng từ ngã ba giao nhau với Quốc lộ A đi Ủy ban nhân dân xã P. Cùng thời điểm này, bà Nguyễn Thị Bích T1 điều khiển xe đạp tham gia giao thông trên đường liên xã theo hướng cùng chiều. Khi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; T phát hiện bà T1 điều khiển xe đạp đi phía trước cách xe mô tô của T khoảng 02 mét và đang chuyển hướng qua đường. Lúc này, T điều khiển xe mô tô lách tránh qua bên phải nhưng do khoảng cách gần nên má lốp bên phải bánh xe trước của xe mô tô biển số 77Y1-2401 do T điều khiển va chạm với bộ phận khóa chân chống bên trái của xe đạp do bà T1 điều khiển. Hậu quả, bà T1 tử vong tại chỗ; 02 xe bị hư hỏng.

Hiện trường vụ tai nạn được mô tả cụ thể trong sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Tại Kết luận giám định tử thi số 07/KLGĐTT-PYBĐ ngày 18/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Bích T1 là do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy + đa chấn thương.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Xe đạp do bà T1 điều khiển bị hư hỏng một số bộ phận có giá trị thành tiền là 50.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Minh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Bích T1 số tiền: 50.000.000 đồng, gia đình bà T1 đã viết đơn bãi nại.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-TP ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị:

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 3 năm 06 tháng đến 04 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đồng; những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

- Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô biển số 77Y1-2401, nhãn hiệu SYMAX, màu sơn: Đen, số khung: PD7A-024257, số máy: FMH-7A024257. 01 đăng ký mô tô, xe máy số 047761, cấp ngày 10/8/2009, biển số đăng ký 77Y1-2401, tên chủ xe Lưu Quang V.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã truy tố và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập; bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Minh T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Nguyễn Minh T là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai trước đó và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 16/01/2024, bị cáo Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô biển số 77Y1-2410 tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu, bia; không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, thiếu chú ý quan sát để xảy ra va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị Bích T1 điều khiển, làm bà T1 chết, xe đạp bị hư hỏng. Hành vi của Nguyễn Minh T đã vi phạm vào khoản 8, 9, 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ làm chết một người nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

[3] Hậu quả mà bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nên cần phải xử phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xem xét: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đã thật thà khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại được gia đình bị hại bãi nại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đồng; những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô biển số 77Y1-2401, nhãn hiệu SYMAX, màu sơn: Đen, số khung: PD7A-024257, số máy: FMH-7A024257. 01 đăng ký mô tô, xe máy số 047761, cấp ngày 10/8/2009, biển số đăng ký 77Y1-2401, tên chủ xe Lưu Quang V.

Hiện vật chứng trên đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô biển số 77Y1-2401, nhãn hiệu SYMAX, màu sơn: Đen, số khung: PD7A-024257, số máy: FMH-7A024257. 01 đăng ký mô tô, xe máy số 047761, cấp ngày 10/8/2009, biển số đăng ký 77Y1-2401, tên chủ xe Lưu Quang V.

Hiện vật chứng trên đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 41/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Thông về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger