|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13/6/2024
“V/v: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tư
Ông Nguyễn Đăng Thường
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 13/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 417/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/12/2023, về “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số : 07/2024/QĐHPT- HNGĐ ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 2000; (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ H, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
* Bị đơn: Anh Bùi Đình S, sinh năm 1995; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ H, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H và anh Bùi Đình S chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2018. Quá trình chung sống, lúc đầu vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh S ham chơi, không chịu làm ăn, không lo cho vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ đó, hai vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay.
Nay chị H xác định tình cảm với anh Bùi Đình S không còn. Do đó, chị H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Bùi Đình S.
Về con chung: Có 02 con chung là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2017 và Bùi Đình T1, sinh năm 2020. Khi ly hôn chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng để chị H nuôi con, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 4.000.000 đồng/2 con.
Tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị H không yêu cầu gì thêm.
* Bị đơn anh Bùi Đình S, tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án trình bày:
Anh Bùi Đình S thừa nhận lời trình bày về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị Trần Thị Ngọc H trình bày là đúng. Quá trình sống, vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S ham chơi, không chịu làm ăn, không lo cho vợ con. Tuy nhiên, anh Bùi Đình S nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không nghiêm trọng, bản thân anh S vẫn còn thương vợ, nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ với nhau. Do đó, nay chị H xin ly hôn thì anh S không đồng ý.
Về con chung: Có 2 con chung là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2017 và Bùi Đình T1, sinh năm 2020. Trường hợp chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh S đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng. Nếu sau này anh S nhận thấy chị H nuôi con không đảm bảo thì sẽ nhận quyền nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh S đồng ý cấp dưỡng để chị H nuôi con, mức cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000 đồng/ 2 con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Bùi Đình S không yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án cơ bản là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử là chưa đảm bảo. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử là đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là chưa tuân thủ đầy đủ quy định. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc vắng mặt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về giải quyết vụ án: Việc kết hôn, chung sống giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh Bùi Đình S là hợp pháp. Qúa trình chung sống chị H xác định không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với Bùi Đình S. Trong khi đó anh Bùi Đình S mặc dù không muốn ly hôn, nhưng đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng không đến, điều đó thể hiện anh S không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa chị H và anh S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh Bùi Đình S.
Về con chung: Chị H và anh S có 2 con chung là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2017 và Bùi Đình T1, sinh năm 2020. Chị H có yêu cầu được nuôi cả hai con và anh S đồng ý. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như trên, giao hai cháu Bùi Thị Huyền T và Bùi Đình T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị H và anh S, tuyên buộc anh S phải cấp dưỡng để chị H nuôi 2 con, mức cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000 đồng/2 con.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thảm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về “Tranh chấp Ly hôn” do nguyên đơn Trần Thị Ngọc H thực hiện quyền khởi kiện. Do bị đơn anh Bùi Đình S có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu theo luật định.
Đối với anh Bùi Đình S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn theo luật định.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H và anh Bùi Đình S tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2018. Xét thấy, đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình sống chị H xác định hôn nhân không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình trái ngược, anh S không quan tâm đến đời sống gia đình, vợ con, do đó mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Đình S khai vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S ham chơi, không chịu làm ăn, không lo cho vợ con. Tuy nhiên, anh S nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không nghiêm trọng, vẫn còn thương vợ, nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ với nhau. Qua xác minh, được chính quyền địa phương cung cấp giữa chị H và anh S có nhiều mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, hiện đã ly thân. Nay chị Trần Thị Ngọc H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, nên cương quyết xin ly hôn, không đồng ý đoàn tụ như yêu cầu của anh S. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh S tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử cho chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Bùi Đình S là phù hợp và có căn cứ.
Về con chung: Chị H và anh S có 2 con chung là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2017 và Bùi Đình T1, sinh năm 2020. Chị H có yêu cầu được nuôi cả hai con và anh S đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như trên, giao hai cháu Bùi Thị Huyền T và Bùi Đình T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị H và anh S, tuyên buộc anh S phải cấp dưỡng để chị H nuôi 2 con, mức cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000 đồng/2 con, thời gian cấp dưỡng từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH.
- - Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 101, 102, 103, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Bùi Đình S.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Tuyên giao 2 con chung là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2017 và Bùi Đình T1, sinh năm 2020 cho chị Trần Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005570 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Trong thời gian chị H nuôi con, anh Bùi Đình S được thực hiện đầy đủ quyền thăm nom, chăm sóc con theo luật định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của Trần Thị Ngọc H và anh Bùi Đình S, tuyên buộc anh S phải cấp dưỡng để chị H nuôi 2 con chung, mức cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000 đồng/2 con, thời gian cấp dưỡng từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, chị Trần Thị Ngọc H đồng ý nộp.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Đồng Phú ; - CC.THADS huyện Đồng Phú; - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Sơn |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiền - Sang ly hôn
