Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 12-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Vĩnh Lâm

Ông Vũ Văn Quân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Mai Văn H; sinh ngày 20/12/1978, tại: huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: thợ hớt tóc; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nam; con của ông Mai Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Trần Thị D; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024, chuyển tạm giam kể từ ngày 02/02/2024, đến ngày 22/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Văn T1; sinh ngày 13/9/1996, tại: huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nam; con của ông Trần Quốc S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Anh Đ1; vợ: Trần Thị Huyền T2; con: có 01 người, sinh năm 2016; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo được tại ngoại điều tra; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1982; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1973; nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn Bẹt N1, sinh năm: 1952; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Võ Văn N2, sinh năm: 1971; nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1974; nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1975; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Ông Lê Tấn Hữu N3, sinh năm: 1982; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Lê Tấn Hữu N3: ông Lê Tấn S1, sinh năm 1959 và bà Lê Thị M, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, Công an huyện T tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Mai Văn H đang có hành vi bán số lô, số đề thắng, thua bằng tiền tại nhà của H tại ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An, thu giữ tang vật gồm: 01 tờ giấy, loại tập học sinh có nhiều chữ viết và con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; 01 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết, đã được cắt bỏ một phần, mặt sau tờ giấy có chữ viết và các con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S, màu xanh.

Qua quá trình điều tra xác định được: vào ngày 20/01/2024, do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên Mai Văn H nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề thắng, thua bằng tiền với người mua số lô, số đề dựa trên kết quả sổ số kiến thiết mở thưởng các tỉnh phía Nam, những ai muốn đánh bạc (mua số đề) thì sẽ gặp trực tiếp Hăng hoặc điện thoại, nhắn tin qua SMS, Z cho H để mua lô số gồm 02 chữ số tự nhiên cụ thể và giá tiền mua mỗi lô số, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Phía Nam trong ngày (thường gọi là đài) nếu 02 số cuối cùng của mỗi giải thưởng (thường gọi là lô) trùng với số đã mua thì người mua lô số đề sẽ thắng (trúng) thưởng với tỷ lệ 01 ăn 80. Nếu H đồng ý bán số lô, số đề cho những người mua thì H sẽ trực tiếp trả lời đồng ý hoặc nhắn tin “ok” gửi qua SMS hoặc Zalo cho người mua số lô, số đề. Kết quả xổ số mỗi tỉnh (đài) gồm 18 lô số nhưng nếu người mua cá cược hết tất cả các lô số (thường gọi là bao lô) thì H chỉ tính tiền 14,5 lô hoặc 15 lô, các lô còn lại không tính tiền người mua. Từ ngày 20/01/2024 đến ngày 23/01/2024, H đã bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu mua số lô, số đề nhưng đến thời điểm bắt quả tang vào ngày 24/01/2024 H không giữ giấy tờ, tài liệu nên không xác định được những ai đã mua số lô, số đề của H với số tiền bao nhiêu. Đến ngày 24/01/2024, H tiếp tục bán số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng các tỉnh Đồng Nai, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, cho 05 người mua và trực tiếp ghi số lô, số đề vào 01 tờ giấy trắng, loại tập học sinh. Cụ thể như sau:

  1. Trần Văn T1 mua số lô, số đề do H bán:
    • - Mua bao lô 03 đài: Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, mỗi đài gồm 18 lô, H tính tiền 14,5 lô, còn lại 3,5 lô không tính tiền:
      • + Số 71 với số tiền 50.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 2.175.000 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 02 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Sóc Trăng được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 08 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Đồng Nai được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 11 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 51 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 91 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Sóc Trăng được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 41 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 02 lô đài Đồng Nai và Sóc Trăng được số tiền 800.000 đồng.
      • + Số 32 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 72 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Đồng Nai được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số F với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Đồng Nai được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 86 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Cần Thơ được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 69 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 96 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 15 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Đồng Nai được số tiền 400.000 đồng.
      • + Số 19 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 217.500 đồng, kết quả trúng 02 lô đài Cần Thơ và Đồng Nai được số tiền 800.000 đồng.
      • + Số 07 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 435.000 đồng, kết quả trúng 01 lô đài Đồng Nai được số tiền 800.000 đồng.
      • + Số 47 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 435.000 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 87 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài với tổng số tiền là 435.000 đồng, kết quả trúng 02 lô đài Đồng Nai và Sóc Trăng được số tiền 1.600.000 đồng.
    • - Mua bao lô 01 đài Sóc Trăng gồm 18 lô, Hăng tính tiền 14,5 lô, còn lại 3,5 lô không tính tiền:
      • + Số 97 với số tiền 45.000 đồng, bao lô 01 đài với tổng số tiền là 652.500 đồng, kết quả không trúng.
      • + Số 197 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 01 đài với tổng số tiền là 72.500 đồng, kết quả không trúng.
    • - Mua bao lô 01 đài Đồng Nai gồm 18 lô, H tính tiền 14,5 lô, còn lại 3,5 lô không tính tiền: T1 mua số 87 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 01 đài với tổng số tiền là 145.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô được số tiền 800.000 đồng.

    Tổng số tiền T1 mua số lô, số đề do H bán là 7.395.000 đồng, tổng số tiền T1 trúng được là 7.600.000 đồng.

  2. Nguyễn Văn N mua số 01 với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, mỗi đài gồm 18 lô, H tính tiền 15 lô, còn lại 03 lô không tính tiền, tổng số tiền mua số đề là 225.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô đài C được số tiền 400.000 đồng.
  3. Nguyễn Văn Bẹt N1 mua số 70 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài: Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, mỗi đài gồm 18 lô, H tính tiền 15 lô, còn lại 03 lô không tính tiền; tổng số tiền Bẹt Na mua số đề là 450.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô đài Đ được số tiền 800.000 đồng.
  4. Nguyễn Ngọc T3 mua số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết các đài Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, mỗi đài gồm 18 lô, H tính tiền 14,5 lô, còn lại 3,5 lô không tính tiền, cụ thể như sau:
    • - Số 82 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng với tổng số tiền là 435.000 đồng, kết quả không trúng.
    • - Số 99 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 01 đài Sóc Trăng với tổng số tiền là 145.000 đồng, kết quả không trúng.
    • - Số 82 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 01 đài Sóc Trăng với tổng số tiền là 145.000 đồng, kết quả không trúng.
    • - Mua số 99 đá với số 82, số tiền 10.000 đồng, bao lô 01 đài Sóc Trăng với tổng số tiền là 145.000 đồng, kết quả không trúng.
    • - Số 24 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 01 đài Sóc Trăng với tổng số tiền là 145.000 đồng, kết quả không trúng.

    Tổng số tiền T3 mua số lô, số đề do H bán là 1.015.000 đồng, kết quả không trúng.

  5. Võ Văn N2 mua số 75 với số tiền 10.000 đồng, bao lô 03 đài: Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, mỗi đài gồm 18 lô, H tính tiền 15 lô, còn lại 03 lô không tính tiền, tổng số tiền mua số đề là 450.000 đồng. Kết quả trúng 01 lô đài S được số tiền 800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSTT, ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố các bị cáo Mai Văn H và Trần Văn T1 tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 50, 38, 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mai Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tội “Đánh bạc”; xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm.

Về vật chứng trong vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử lý đề nghị: tiếp tục lưu hồ sơ chính vụ án vật chứng là 01 tờ giấy, loại tập học sinh có nhiều chữ viết và con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; 01 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết, đã được cắt bỏ một phần, mặt sau tờ giấy có chữ viết và các con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S, màu xanh, có gắn sim số 0842.434.494, số IMEI 1: 861128058824514, số IMEI 2: 861128058824506, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị can Mai Văn H sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A1k, số IMEI 1: 861220040509178, số IMEI 2: 861220040509160, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Văn T1 sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội; đề nghị giao trả cho bị cáo Trần Văn T1 cho 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số seri: 353300056143552, có gắn sim số 0886.773.132, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Văn T1 không sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và quan điểm luận tội do đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 trình bày các bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình, các bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đồng thời, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được cơ quan điều tra lấy lời khai, cho tự viết tự khai, tường trình nêu rõ sự việc, ý kiến, yêu cầu của mình. Trong thời gian chuẩn bị mở phiên tòa xét xử cũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên xét thấy đã đủ đều kiện xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Các bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được vào ngày 24/01/2024, Mai Văn H đã có hành vi đánh bạc thắng, thua bằng tiền với hình thức Hăng bán số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng các tỉnh Đồng Nai, Thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng cho 05 người mua. Cụ thể như sau: Trần Văn T1 mua số lô, số đề với tổng số tiền 7.395.000 đồng, kết quả trúng được tổng số tiền là 7.600.000 đồng; Nguyễn Văn N mua số lô, số đề với tổng số tiền là 225.000 đồng, kết quả trúng được số tiền 400.000 đồng; Nguyễn Văn Bẹt N1 mua số lô, số đề với tổng số tiền là 450.000 đồng, kết quả trúng được số tiền 800.000 đồng; Nguyễn Ngọc T3 mua số lô, số đề với tổng số tiền là 1.015.000 đồng, kết quả không trúng; Võ Văn N2 mua số lô, số đề với tổng số tiền là 450.000 đồng, kết quả trúng được số tiền 800.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết các tỉnh Đồng Nai, Thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tại nhà của H ở ấp H, xã N, huyện T, tỉnh Long An, H tính toán tiền thắng, thua dựa trên tờ giấy tập đã ghi số lô, số đề bán cho người mua trước đó thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tang vật như đã nêu trên.

Xét thấy các bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Trong đó, tổng số tiền Mai Văn H dùng đánh bạc là 19.135.000 đồng, gồm tổng tiền bán số lô, số đề là 9.535.000 đồng và tổng số tiền người mua trúng được là 9.600.000 đồng; tổng số tiền Trần Văn T1 dùng đánh bạc là 14.995.000 đồng, gồm tổng tiền mua số lô, số đề là 7.395.000 đồng và tổng số tiền trúng được là 7.600.000 đồng.

Do đó, hành vi của các bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Việc quyết định hình phạt đối với bị cáo trên cơ sở xem xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, nhân thân của từng bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo lần đầu thực hiện hành vi phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài ra xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của địa phương. Do đó, các bị cáo còn được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[7] Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Về quyết định hình phạt đối với từng bị cáo: Xét thấy bị cáo Mai Văn H là người trực tiếp bán số đề cho nhiều người trong nhiều ngày, ngày 24/01/2024 mới bị bắt quả tang mới có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự; bị cáo Mai Văn T5 mua số đề do bị cáo H bán. Do đó, hình phạt quyết định đối với bị cáo H cần cao hơn đối với bị cáo T5.

[9] Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình của bị cáo gặp khó khăn, các bị cáo nhất thời thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xét thấy các bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Do đó, xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp cho các bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình, tự cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội và giảm gánh nặng cho cơ sở giam giữ. Tuy nhiên, buộc các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo để bị cáo chấp hành tốt quy định pháp luật, không tiếp tục phạm tội.

Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[11] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

  • [11.1] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Văn Bẹt N1, Võ Văn N2 vào ngày 24/01/2024 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức mua số lô, số đề do Mai Văn H bán nhưng tổng số tiền mua và trúng được dưới 5.000.000 đồng. Tất cả các đối tượng trên đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội “Đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc” nên hành vi của các đối tượng này không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng nêu trên về hành vi “Đánh bạc” theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là đúng quy định của pháp luật.
  • [11.2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Tấn Hữu N3: Trong quá trình điều tra bị cáo Mai Văn H trình bày vào ngày 24/01/2024, H nhận được tin nhắn từ Zalo của N3 gửi qua Zalo của H, nội dung gửi là 01 tấm hình chụp 01 tờ giấy có ghi các con số, số tiền, các đài để mua số lô, số đề với tổng cộng số tiền mua là 18.632.500 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra xác định Nguyễn Tấn Hữu N4 mắc bệnh “Tâm thần phân liệt thể hoang tưởng - F20.0” từ năm 2010 và thường xuyên được gia đình đưa đi khám, điều trị tại Bệnh viện tâm thần Thành phố H cho đến nay. Qua làm việc đối với N4 có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật của N4, N4 trình bày vào ngày 24/01/2024, có 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mượn điện thoại của N4 gửi tin nhắn qua Zalo cho H nhưng N4 không biết nội dung là gì, sau đó người thanh niên trả lại điện thoại cho N4, N4 không kiểm tra lại điện thoại, từ trước đến nay N4 không mua số lô, số đề của ai và của H. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra nội dung tin nhắn Zalo của H nhưng không có dữ liệu tin nhắn nên không có cở sở, tài liệu, chứng cứ chứng minh Lê Tấn Hữu N3 có hành vi mua số lô, số đề do bị cáo Mai Văn H bán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở để xem xét xử lý.
  • [11.3] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L: Trong quá trình điều tra bị cáo Mai Văn H trình bày vào ngày 24/01/2024, Nguyễn Thị L trực tiếp đến nhà của H, gặp H mua số lô, số đề với tổng số tiền là 450.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra Nguyễn Thị L trình bày từ trước đến nay không có mua số lô, số đề của ai và của H. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cở sở, tài liệu, chứng cứ chứng minh Nguyễn Thị L có hành vi mua số lô, số đề do Mai Văn H bán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở để xem xét xử lý.
  • [11.4] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T4 có hành vi nhắn tin mua số lô, số đề do bị cáo Mai Văn H bán với tổng số tiền là 225.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, H và T4 đều trình bày T4 nhắn mua số lô, số đề lúc gần 16 giờ ngày 24/01/2024, khi đó H đang bận nên không đồng ý bán nên không nhắn tin “ok” trả lời cho T4 nên không có cơ sở xem xét xử lý đối với T4. Tuy nhiên, T4 đã có hành vi mua số lô, số đề nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T4 về hành vi “Đánh bạc” theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
  • [11.5] Đối với đối tượng tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) trực tiếp gặp H mua số lô, số đề do Mai Văn H bán vào ngày 24/01/2024 với tổng số tiền là 450.000 đồng. Tuy nhiên, H không biết nhân thân, lai lịch của K. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của K nên không có cơ sở để xử lý.
  • [11.6] Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo Mai Văn H trình bày từ ngày 20/01/2024 đến ngày 23/01/2024, H đã bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu mua số lô, số đề. Tuy nhiên, H không nhớ đã bán số lô, số đề cho những ai với số tiền bao nhiêu. Kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở, tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi Hăng bán số lô, số đề trước ngày 24/01/2024 nên không có cơ sở để xử lý.

[12] Về vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử lý vật chứng như sau:

  • [12.1] Đối với 01 tờ giấy, loại tập học sinh có nhiều chữ viết và con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; 01 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết, đã được cắt bỏ một phần, mặt sau tờ giấy có chữ viết và các con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ là chứng cứ thể hiện bị cáo Mai Văn H bán số đề nên tiếp tục lưu giữ hồ sơ chính vụ án.
  • [12.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S, màu xanh, có gắn sim số 0842.434.494, số IMEI 1: 861128058824514, số IMEI 2: 861128058824506, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Mai Văn H sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • [7.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Alk, số IMEI 1: 861220040509178, số IMEI 2: 861220040509160, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Văn T1 sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • [7.4] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số seri: 353300056143552, có gắn sim số 0886.773.132, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Văn T1 không sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên giao trả cho bị cáo.
  • [7.5] Đối với 01 thẻ ngân hàng A số 9704051098314910 mang tên Mai Văn H và số tiền Việt Nam: 2.035.00 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo Mai Văn H không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho bị cáo Mai Văn H nên Hội đồng xét xử không đề cập.
  • [8] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Mai Văn H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/8/2024).

      Giao bị cáo về UBND xã N nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/8/2024).

      Giao bị cáo về UBND xã H nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    1. Tiếp tục lưu giữ hồ sơ chính vụ án 01 tờ giấy, loại tập học sinh có nhiều chữ viết và con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ; 01 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết, đã được cắt bỏ một phần, mặt sau tờ giấy có chữ viết và các con số, được viết bằng mực màu xanh, màu đỏ.
    2. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21S, màu xanh, có gắn sim số 0842.434.494, số IMEI 1: 861128058824514, số IMEI 2: 861128058824506, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A1k, số IMEI 1: 861220040509178, số IMEI 2: 861220040509160, đã qua sử dụng.
    3. Giao trả cho bị cáo Trần Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số seri: 353300056143552, có gắn sim số 0886.773.132, đã qua sử dụng.

    Hiện vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Mai Văn H, Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - CQĐT Công an huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hòa Lập
  • - Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh Đông
  • - Bị cáo; Đương sự;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn H, Trần Văn T1 phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger