|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NΑΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Thành
- Ông Hoàng Thanh Tâm
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Vào ngày 12/7/2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố Núi Tung, phường Suối Tre, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992. Địa chỉ thường trú: Thôn 3, xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Chổ ở hiện nay: số nhà 24, đường Ngô Quyền, khu phố Ruộng Hời, phường Bảo Vinh, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Hạnh và anh Tuấn Anh vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/01/2024, các lời khai bổ sung nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ H trình bày: chị kết hôn với anh Nguyễn Tuấn A vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Suối Tre. Sau khi kết hôn anh chị chung sống bình thường đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu từ việc bất đồng ý kiến trong việc nuôi dạy con, từ đó thường xuyên gây gỗ nhau. Sự việc kéo dài đến đầu năm 2023 thì hai bên sống ly thân, tháng 12/2023 chị H nộp đơn ly hôn đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị tiếp tục nộp đơn và yêu cầu được ly hôn với anh Tuấn A.
Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung là Nguyễn Tuấn Khang, sinh ngày 04/8/2011 và không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con. Anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chứng cứ: tự khai; căn cước công dân, giấy đăng ký kết hôn, khai sinh, đơn đề nghị không hòa giải, đối thoại, đơn xin vắng mặt, quyết định đình chỉ.
- Bị đơn anh Nguyễn Tuấn A vắng mặt nên không có lời trình bày
Chứng cứ: không có.
- Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Không có.
- Ý kiến của kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người tham gia tố tụng cũng chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chị H có đơn xin vắng mặt, anh Tuấn Anh được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt anh chị là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh Tuấn A không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Tuấn A và chị H không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Chị H chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Hồ Thị Mỹ H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Tuấn A nên xác định chị H là nguyên đơn, anh Tuấn A là bị đơn trong vụ án. Do chị H có đơn xin vắng mặt, anh Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh chị.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tuấn A có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo chứng cứ của chị H cung cấp thì thấy tháng 12/2023 chị H có nộp đơn ly hôn và sau đó rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành nên chị mới tiếp tục nộp đơn ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tống đạt văn bản tố tụng cho anh Tuấn A thì thấy hiện anh đang sống tại số nhà 24 đường Ngô Quyền, khu phố Ruộng Hời, phường Bảo Vinh, đây là nơi anh Tuấn A ở trọ và có xác nhận của công an phường Bảo Vinh về việc anh Tuấn A đang sinh sống tại đây. Trong khi đó chị H hiện sinh sống tại phường Suối Tre, từ đó cho thấy anh chị đã sống ly thân đúng như chị H khai, cả hai không cùng nhau chăm sóc chăm lo cho gia đình, con cái cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được.
Anh Tuấn A vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh không đến Toà án làm việc, không có ý kiến phản hồi cho thấy anh không quan tâm, bỏ mặc và không có thiện chí hoà giải. Từ đó cho thấy giữa anh chị không có khả năng hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị H ly hôn với anh Tuấn A.
[3] Về con chung: cháu Nguyễn Tuấn Khang, sinh ngày sinh ngày 04/8/2011 có nguyện vọng muốn sống với mẹ nên chấp nhận giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Do chị H không yêu cầu nên tạm thời anh Tuấn A không cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Tuấn A vắng mặt, chị H khai không có nên không xem xét.
[5] Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 28, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị Mỹ H ly hôn anh Nguyễn Tuấn A.
- Về con chung: giao cháu Nguyễn Tuấn Khang, sinh ngày sinh ngày 04/8/2011 cho chị Hồ Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Nguyễn Tuấn A không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Tuấn A được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Khi cần thiết, anh Tuấn A và chị H được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con, việc cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Tuấn A vắng mặt, chị Hồ Thị Mỹ H khai không có nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo biên lai thu số 0005069 ngày 13/3/2024 thành tiền án phí, chị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
