|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Văn Tân
- Bà Đặng Thị Đôi
- - Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Phong - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Uy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa trực tuyến tại các điểm cầu:
- Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an huyện K.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Đinh Thị Hồng P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Để xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trịnh Văn D, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1995, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1962; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63 ngày 29/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12 ngày 23/3/2017, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình
sự; tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 15 ngày 21/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07 ngày 05/3/2021, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tiền sự: Không; bị cáo tự thú, bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024, đến ngày 17/01/2024 chuyển tạm giam, có mặt.
2. Trịnh Văn N, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1990, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn N1 và bà Phạm Thị T1; vợ chồng bị cáo đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 15/5/2024, đến ngày 17/5/2024 chuyển tạm giam, có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị A, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2023, Trịnh Văn D điều khiển xe mô tô Sirius màu đen không nhớ biển kiểm soát đến nhà Trịnh Văn N ở thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng chơi. Tại nhà N, D rủ N đi đường thấy có ai sơ hở thì chiếm đoạt tài sản, N đồng ý. Trịnh Văn N điều khiển xe mô tô Sirius chở D từ thôn T, xã M, huyện A sang địa bàn huyện K. Đến khoảng 18 giờ 40 phút, khi đi đến chợ thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng, D phát hiện phía trước có người phụ nữ đang ngồi trên xe mô tô Lead màu xanh, xe đang dừng ở lề đường, tay đang cầm 01 điện thoại, ốp màu xám (sau này xác định được là chị Lê Thị A). D bảo N điều khiển xe mô tô vòng lại, áp sát chiếc xe của chị Lê Thị A, N đồng ý và điều khiển xe áp sát bên trái xe của chị A. Khi xe vừa áp sát thì D dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị Lê Thị A, N tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy sau đó đi về nhà N. Tại nhà N, D lấy thẻ sim trong điện thoại và tắt nguồn. D phát hiện trong ốp điện thoại có 01 sim khác nên D cầm cả 02 sim điện thoại về nhà sau đó vứt cả hai chiếc sim điện thoại đi. Chiếc điện thoại các bị cáo chiếm đoạt được của chị Lê Thị A là điện thoại Iphone 11 màu tím, bản 256GB, D để lại cho N sử dụng. Thấy ốp chiếc điện thoại màu xám nên N đã dùng sơn trắng phun lên bề mặt ngoài của ốp và vẽ hình chiếc lá. Khoảng 05 ngày sau, Trịnh Văn D bảo N đưa chiếc điện thoại để D đi cầm cố lấy tiền chi tiêu, do không mở được mật khẩu nên D không cầm cố được. Chiếc xe mô tô Sirius màu đen không rõ biển kiểm soát, ngày 02/01/2024, Trịnh Văn D đã cầm cố cho người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000đ, khi cầm cố không có bất cứ giấy tờ gì.
Ngày 08/01/2024, Trịnh Văn D đến Công an huyện K tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 điện thoại Iphone 11 màu tím kèm theo ốp điện thoại đã chiếm đoạt được của chị Lê Thị A. Ngày 15/5/2024,
Trịnh Văn N đến Công an huyện K trình diện và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím, loại 256GB, trị giá 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án; ngày 17/01/2024, khởi tố bị can đối với Trịnh Văn D; ngày 17/5/2024 khởi tố bị can đối với Trịnh Văn N đều về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra Trịnh Văn D và Trịnh Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm như nội dung vụ án đã nêu.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-KT của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã truy tố Trịnh Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; truy tố Trịnh Văn N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trịnh Văn D, Trịnh Văn N theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-KT ngày 14/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trịnh Văn D từ 05 đến 06 năm tù; đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn N từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N không bào chữa hoặc tranh luận, các bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng huyện K, thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của
bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 18 giờ 40 phút, ngày 28/12/2023, tại khu vực chợ thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng, Trịnh Văn N có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái chị Lê Thị A để Trịnh Văn D dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu tím của chị A, sau đó Trịnh Văn N tăng ga, điều khiển xe bỏ chạy. Hành vi của các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N đã vi phạm Điều 171 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Cướp giật tài sản”. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N có hành vi sử dụng xe mô tô Sirius khi thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị Lê Thị A. Hành vi này của các bị cáo cần phải được đánh giá là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trịnh Văn D, bị cáo có 04 tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63 ngày 29/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12 ngày 23/3/2017, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 15 ngày 21/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07 ngày 05/3/2021, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cả 04 bản án nêu trên tính đến ngày phạm tội là ngày 28/12/2023, bị cáo Trịnh Văn D chưa được xóa án tích. Ngày 28/12/2023, bị cáo Trịnh Văn D lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, do đó lần phạm tội này của bị cáo phải tiếp tục được đánh giá là “Tái phạm nguy hiểm”, vi phạm điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Với trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt xác định được là 7.000.000 đồng, do đó bị cáo Trịnh Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất của đồng phạm: Các bị cáo tuy có sự bàn bạc trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên trước khi phạm tội, các bị cáo không lập kế hoạch, chưa có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo khi thực hiện tội phạm, do vậy đây chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn, tự phát, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi cướp giật tài sản của các bị cáo mang tính rất nguy hiểm cho xã hội, nó cùng một lúc xâm phạm đến thân thể, đến sức khỏe của con người và quyền sở hữu tài sản của công dân đồng thời còn gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi chưa bị phát hiện ai là người thực hiện hành vi phạm tội, ngày 08/01/2024 bị cáo Trịnh Văn D trình diện tại Công an huyện K và tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm xảy ra tại chợ thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng. Tình tiết này được đánh giá là người phạm tội “Tự thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ngày 15/5/2024, sau khi biết hành vi phạm tội của mình đã bị Cơ quan công an phát hiện, bị cáo D đã bị tạm giam, bị cáo Trịnh Văn N ra trình diện khai báo hành vi phạm tội của mình. Tình tiết này của bị cáo Trịnh Văn N được coi là “Đầu thú”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo Trịnh Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Văn N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về vai trò và hình phạt đối với các bị cáo:
[8.1] Về vai trò và hình phạt đối với bị cáo Trịnh Văn D: Bị cáo phạm tội với vai trò khởi xướng, bị cáo là người rủ Trịnh Văn N tham gia phạm tội; bảo Trịnh Văn N áp sát xe của bị hại để công khai tiếp cận tài sản, dùng tay phải giật điện thoại của bị hại; tháo sim, giao điện thoại cho N sử dụng. Như vậy, về vai trò, bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo Trịnh Văn N. Mặt khác, như đã phân tích tại mục [3] nêu trên, bị cáo phạm tội lần này thuộc trong trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, cần áp dụng điểm d, i khoản 1 Điều 171, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” với mức án nghiêm khắc và cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo.
[8.2] Về vai trò và hình phạt đối với bị cáo Trịnh Văn N: Bị cáo tham gia phạm tội khi bị rủ rê, tuy nhiên khi hành động, bị cáo có hành động tích cực. Trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo Trịnh Văn D đi thực hiện tội phạm; điều khiển xe áp sát bị hại để D thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản sau đó nhanh chóng tẩu thoát, được D giao sử dụng chiếc điện thoại chiếm đoạt được của bị hại. Về vai trò, bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo Trịnh Văn D. Việc áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” với mức án nghiêm khắc và cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo trong vụ án.
[9] Về dân sự: Quá trình điều tra bị hại Lê Thị A đã nhận lại chiếc điện thoại và ốp điện thoại; đối với 02 sim điện thoại chị Lê Thị A đã làm lại, chị A không
yêu cầu bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N phải bồi thường do vậy vấn đề dân sự trong vụ án không đặt ra để giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 điện thoại Iphone 11 màu tím kèm ốp điện thoại do các bị cáo chiếm đoạt của chị Lê Thị A, ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị Lê Thị A là phù hợp pháp luật.
[11] Đối với 01 xe mô tô Sirius màu đen không đeo biển kiểm soát, ngày 02/01/2024, Trịnh Văn D đã bán cho người không quen biết, không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lý.
[12] Về án phí: Các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh đối với các bị cáo:
- - Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn D; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn N.
- - Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản".
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Văn D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024;
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Văn N 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trịnh Văn D, Trịnh Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thông |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
