Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 12-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
  2. Ông Ngô Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Nhị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thị Kim Ý, sinh năm 2005, tại An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Chí T, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1978; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là người nhỏ nhất; bị cáo có chồng và 01 con sinh năm 2023; Tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2024, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn K, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

  3. Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 2005 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp Sơn Lập, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

  5. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang

* Người làm chứng:

  1. Huỳnh Văn T2 (vắng mặt)
  2. Huỳnh Thị X (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/02/2024 Lê Thị Kim Ý đến nhà bạn là Nguyễn Thị Kim M tại xã V, huyện C, tỉnh An Giang để chơi, đến ngày 07/02/2024 Mỹ rủ Ý đi đến nhà mẹ ruột của Mỹ tại huyện T, tỉnh An Giang, do Ý không có xe nên M cho Ý mượn xe mô tô biển số 67N1-140.12. Khoảng 11 giờ ngày 07/02/2024 chồng của M là Huỳnh Văn T2 chở M chạy trước còn Ý điều khiển xe mô tô biển số 67N1-140.12 chạy theo sau, khi đến thị trấn T thì Ý lạc đường, không có điện thoại liên lạc với M nên Ý đợi ở thị trấn T, khoảng 30 phút sau do không thấy M quay lại nên Ý đến nhà bạn tên H thuộc xã V, huyện T, tỉnh An Giang, tại đây Ý mượn điện thoại gọi cho M hỏi mượn xe mô tô biển số 67N1-140.12 đến ngày 08/02/2024 sẻ trả lại thì M đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 08/02/2024 do không còn tiền tiêu xài nên Ý mang xe xe mô tô biển số 67N1-140.12 đến cầm cho Nguyễn Thị Cẩm N tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang với số tiền 2.500.000 đồng. Khoảng một tuần sau Ý hỏi bán cho xe mô tô trên cho N với giá 4.000.000 đồng thì N đồng ý và đưa thêm cho Ý số tiền 1.500.000 đồng, toàn bộ số tiền cầm xe và bán xe là 4.000.000 đồng Ý tiêu xài cá nhân hết. Sau đó N bán xe mô tô biển số 67N1-140.12 cho Nguyễn Văn T1 với giá 5.000.000 đồng. Ngày 09/02/2024 Mỹ đến công an xã V trình báo nội dung vụ việc.

Ngày 03/5/2024 Ý bị khởi tố điều tra, ngày 15/6/2024 Ý bị bắt theo lệnh truy nã.

* Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67N1-140.12, nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade, màu Vàng-đen, số máy JF46E0092936, số khung RLHJF4601DY405972. Hiện đã trao trả cho bị hại Nguyễn Thị Kim M.

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 15/KL.HĐ ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67N1-140.12, nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade, màu Vàng-đen, số máy JF46E0092936, số khung RLHJF4601DY405972, xe đã qua sử dụng, có giá trị 45.000.000 đồng × 10% = 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 40/CT-VKSCT-HS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lê Thị Kim Ý về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị hại Nguyễn Thị Kim M trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Xe mô tô biển số 67N1-140.12 là của cha ruột tên Lê Văn K cho M mượn để đi lại. Hiện M đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường, yêu cầu xử lý hình sự đối vối hành vi của bị cáo Ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn K, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Văn T1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, N không biết xe mô tô do Ý phạm tội mà có nên yêu cầu Ý trả lại số tiền 4.000.000 đồng. Hiện N đã trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho T1 nên T1 không có yêu cầu gì.

Người làm chứng Huỳnh Văn T2, Huỳnh Thị X trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm i, s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Kim Ý mức án từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 15/6/2024);

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo hồi thường gì thêm; áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Cẩm N số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng)

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thị Kim Ý khai nhận đã lợi dụng sự tin tưởng của Nguyễn Thị Kim M cho bị cáo mượn xe mô tô biển số: 67N1-140.12 nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Sau khi nhận tài sản của Nguyễn Thị Kim M bị cáo đã đem tài sản đi cầm, sau đó bán cho Nguyễn Thị Cẩm N xe mô tô biển số: 67N1-140.12 với tổng số tiền 4.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Theo kết luận định giá xe mô tô biển số: 67N1-140.12 là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 4.500.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Thị Kim Ý phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là phụ nữ có thai. Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim M đã nhận lại xe mô tô biển số: 67N1-140.12, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về biện pháp tư pháp: Nguyễn Thị Cẩm N không biết xe mô tô biển số: 67N1-140.12 do bị cáo phạm tội mà có nên đồng ý nhận cầm và mua với số tiền tổng cộng là 4.000.000 đồng, N yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền trên. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho N số tiền 4.000.000 đồng là phù hợp.

[7] Bị cáo Lê Thị Kim Ý phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim Ý phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
    • - Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim Ý 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 15/6/2024).
  2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự
    • Buộc bị cáo Lê Thị Kim Ý trả lại cho Nguyễn Thị Cẩm N số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • Buộc bị cáo Lê Thị Kim Ý phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/7/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger