|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 41/2024/HS-ST |
Ngày 12-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Vi Văn Thuy
Ông Giàng A Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 23/05/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 30/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cháng A H; Sinh năm 1981 tại xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cháng A L (sinh năm 1962) và bà Giàng Thị C (sinh năm 1964); Bị cáo chung sống với chị Giàng Thị S, sinh năm 1984 (chưa đăng ký kết hôn) và có 04 người con chung với chị Giàng Thị S; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2024 đến ngày 19/03/2024, bị tạm giam từ 19/03/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 10/3/2024 Cháng A H một mình đi bộ từ nhà (khi đi H mang theo 50.000 đồng) ra khu vực bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi ra đến đường quốc lộ 4H, H gặp và đi nhờ xe máy của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đến bản T, xã M thì xuống xe (người đàn ông cho H đi nhờ xe đi đâu H không biết), còn H thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt và đưa cho ông ta 50.000 đồng và nhờ ông ta mua ma túy giúp, khoảng 10 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho H 01 gói nhỏ Heroine được gói trong mảnh nilon màu vàng, sau khi đưa ma túy cho H người đàn ông lạ mặt đi đâu H không biết, còn H cất số ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải mặc trên người và đi bộ quay về nhà, đến 12 giờ cùng ngày khi H đang đi bộ về đến bản T, xã M, huyện M thì bị tổ công tác Đồn biên phòng M và Công an xã M phát hiện, bắt quả tang, tổ công tác thu giữ của H 01 gói Heroine có khối lượng 0,21 gam được gói trong mảnh nilon màu vàng. H khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 17/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Cháng A H có khối lượng 0,21 gam là chất ma túy: Loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định (0,13 gam Heroine) và 01 mảnh nilon màu vàng.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-MN ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Cháng A H để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine được hoàn lại sau khi trích giám định là 0,13 gam và 01 mảnh nilon màu vàng; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của viện kiểm sát.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Cháng A H khai: Khoảng 08 giờ ngày 10/3/2024 bị cáo nhờ một người đàn ông lạ mặt mua cho bị cáo 0,21 gam Heroine với giá tiền 50.000 đồng tại bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Mua được ma túy bị cáo cất ở túi quần bên phải rồi đi bộ quay về nhà, đến 12 giờ cùng ngày khi bị cáo đi bộ về đến bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, thì bị tổ công tác Đồn biên phòng M và Công an xã M phát hiện, bắt quả tang. Mục đích bị cáo mua Heroine về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2018 đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong bản án trên và đã được xóa án tích. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của viện kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa là thấp, chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo cao hơn để đảm bảo tính răn đe.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông lạ mặt đã cho bị cáo đi nhờ xe máy và người đàn ông mua hộ ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của những người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,13 gam Heroine được hoàn lại sau khi đã trích giám định (Khối lượng Heroine thu giữ là 0,21 gam, đã trích toàn bộ gửi giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,13 gam Heroine) và 01 mảnh nilon màu vàng, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Cháng A H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về vật chứng vụ án:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Xử phạt bị cáo Cháng A H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 10/3/2024.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 0,13 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định và 01 mảnh nilon màu vàng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thâm cho bị cáo.
Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Nhung |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cháng A H tàng trữu trái phép chất ma túy
