TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 12-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Trứ
2. Ông Nguyễn Văn Bào
-Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1.Bị cáo:
- - Họ và tên: Đinh Lê Q; Tên gọi khác: Không
- Giới tính: Nam ; Sinh năm 1996;
- Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
- Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.
- Con ông: Không xác định;
- Con bà: Đinh Thị M, sinh năm 1964;
- Vợ, con: Chưa có;
- Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án:
- - Bản án số 83/2018/HSST ngày 21/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đinh Lê Q 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2019, chấp hành xong án phí ngày 09/8/2018).
- - Bản án số 07/2021/HSST ngày 19/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đinh Lê Q 28 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2022, chấp hành xong án phí ngày 26/3/2021, chấp hành xong bồi thường dân sự ngày 09/3/2021).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa
- - Họ và tên: Nguyễn Duyên T; Tên gọi khác: Không
- Giới tính: Nam ; Sinh năm 1997;
- Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không
- Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12.
- Con ông: Nguyễn Duyên K, sinh năm 1968;
- Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1972;
- Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1997;
- Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017;
- Gia đình có ba anh chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án: Bản án số 18/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Duyên T 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2019, đã nộp án phí ngày 26/02/2019; chưa chấp hành phần bồi thường dân sự).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa
2. Người bị hại:
Chị Vũ Thị Ngọc A, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Vân Cẩm, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- -Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
- -Anh Đặng Văn S, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
- -Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh
- -Ông Dương Đình T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: SN A, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
- -Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Nơi cư trú:Ngõ A, đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội
- Nơi tạm trú: phòng 104, ngõ A, đường Y, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/11/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggo, loại xe Vespa, màu trắng, biển kiểm soát: 29G1-161.18 chở Q đi từ huyện Y sang huyện H. Khi đi qua Cầu Đ sang địa phận huyện H được khoảng 01km; Quyết quan sát thấy chị Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 07/7/2005, trú tại thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển xe đạp điện đi ngược chiều, lúc này chị Ngọc A vừa điều khiển xe vừa sử dụng điện thoại di động nên Q chỉ tay về phía chị Ngọc A và nói với T “Quay xe lại, đứa kia cầm điện thoại, đi theo nó để giật”. T đồng ý, điều khiển xe mô tô quay lại rồi áp sát bên trái, song song với xe của chị Ngọc A để Q ngồi sau xe mô tô, nhanh chóng dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của chị Ngọc A đang cầm ở tay trái. Sau khi Q cướp giật được tài sản, T tăng ga xe mô tô đèo Q bỏ chạy về hướng huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường tẩu thoát, T và Q dừng lại kiểm tra thì biết tài sản cướp giật được là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, phía trong ốp điện thoại có 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thị Ngọc A. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Q đến cửa hàng điện thoại “HS Phone” do anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh làm chủ và đặt vấn đề bán chiếc điện thoại vừa cướp giật được cho anh H. Tại đây, Q tháo sim điện thoại ra, giữ lại sim, ốp điện thoại và căn cước công dân mang tên Vũ Thị Ngọc A còn điện thoại bán cho anh H được số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Số tiền bán điện thoại cướp giật được của chị Ngọc A, T và Q đã chi tiêu cá nhân hết.
Đến buổi tối cùng ngày, T và Q rủ nhau đến nhà anh Đặng Văn S, sinh năm 1997, trú tại khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh chơi. Trên đường đi, Q đã vứt ốp điện thoại đi, giữ lại sim điện thoại và Căn cước công dân của chị Ngọc A. Khi đến nhà anh S thì T và Q kể lại sự việc cướp giật tài sản của chị Ngọc A cho anh S biết. Sau đó, Q mượn điện thoại di động của anh S lắp sim của chị Ngọc A vào với mục đích tìm cách đăng nhập vào tài khoản ngân hàng để lấy tiền nhưng không được. Quyết tháo sim, trả điện thoại cho anh S rồi đưa cho anh S sim điện thoại, căn cước công dân của chị Ngọc A và nhờ anh S vứt đi nhưng anh S chỉ vứt sim đi, còn căn cước công dân của chị Ngọc A thì anh S giữ lại. Sau đó, anh S tìm kiếm tài khoản Zalo của chị Ngọc A và chủ động nhắn tin hẹn gặp chị Ngọc A để trả lại căn cước công dân.
Sau khi sự việc xảy ra, chị Vũ Thị Ngọc A đã làm đơn trình báo Công an xã M. Đến ngày 30/11/2023, anh S hẹn gặp chị Ngọc A tại trước Tòa nhà chung cư B thuộc địa phận thôn Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để anh S trả lại cho chị Ngọc A căn cước công dân thì bị lực lượng Công an huyện H mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, S khai nhận sự việc như trên và tự nguyện giao nộp 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Thị Ngọc A.
Ngày 30/11/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duyên T và Đinh Lê Q. Thu giữ của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duyên T và Đinh Lê Q. Kết quả không thu giữ của Q tài sản, đồ vật gì; thu giữ tại nhà T 01 áo khoác ngoài màu xám, size M, 01 quần dài màu xanh tím than, 01 áo khoác ngoài màu đen, mặt ngoài áo có nhiều hoa văn chìm, size XL và 01 đôi dép xỏ ngón màu đen. T trình bày đây là trang phục mà T sử dụng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 28/11/2023.
Ngày 30/11/2023, anh Nguyễn Văn H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, vỏ màu hồng và trình bày đây là chiếc điện thoại mà Nguyễn Duyên T và Đinh Lê Q đã bán cho anh ngày 28/11/2023.
Ngày 04/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Yêu cầu định giá tài sản số 81/YC định giá chiếc điện thoại di động của chị Ngọc A mà T và Q đã cướp giật. Tại kết luận định giá số 77/KL-HĐĐG ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, vỏ màu hồng, số IMEI: 355838081830279 tại thời điểm tháng 11/2023 trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Đối với chiếc ốp điện thoại mà các bị can đã chiếm đoạt, do tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được và không rõ thông tin nên Hội đồng định giá không định giá được, chị Ngọc A cũng không có yêu cầu gì đối với chiếc ốp điện thoại này.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duyên T và Đinh Lê Q thành khẩn khai nhận hành vi cướp giật tài sản của chị Vũ Thị Ngọc A ngày 28/11/2023 như đã nêu ở trên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho T và Q thực nghiệm hành vi cướp giật điện thoại, kết quả thực hiện phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và vật chứng thu giữ được.
*Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKS-HH ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duyên T. Truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Lê Q.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo T không yêu cầu lấy lại quần áo bị thu giữ, đề nghị tiêu hủy
Bị cáo Q không yêu cầu lấy lại điện thoại, đề nghị tịch thu sung công nhà nước.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duyên T từ 03 năm 6 tháng đến 4 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30/11/2023)
- -Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đinh Lê Q từ 4 năm đến 4 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30/11/2023)
- -Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Q do bị cáo Q không yêu cầu lấy lại và đề nghị sung công quỹ nhà nước.
Tịch thu 01 áo khoác ngoài màu xám, size M, 01 quần dài màu xanh tím than, 01 áo khoác ngoài màu đen, mặt ngoài áo có nhiều hoa văn chìm, size XL và 01 đôi dép xỏ ngón màu đen thu giữ của bị cáo T do không còn giá trị sử dụng; biển kiểm soát: 29G1-161.18 của chị Nguyễn Thị Hồng V do không có yêu cầu đòi lại.
- -Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- -Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự
- Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 800.000 đồng (mỗi bị cáo 400.000 đồng)
- Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng (mỗi bị cáo 750.000 đồng).
Ngoài ra quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, Hội đồng xét xử xét thấy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 28/11/2023, tại đoạn đường Tỉnh lộ 295 thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; bị cáo Nguyễn Duyên T và Đinh Lê Q đã có hành vi sử dụng xe mô tô là phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu hồng trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của chị Vũ Thị Ngọc A.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q đã có hành cướp giật để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó, với hành vi như trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 - Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy:
Trong vụ án này các bị cáo đồng phạm giản đơn, các bị cáo đồng ý cùng nhau thực hiện việc cướp giật tài sản của người khác, bị cáo Q là người rủ bị cáo T và là người thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Ngọc A. Như vậy, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này, thì bị cáo Q có vai trò cao hơn, bị cáo T có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực nên, Hội đồng xét xử cần phải xem xét mức hình phạt phù hợp khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo Q, T trước đó đã bị xử về tội xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục phạm tôi. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo Nguyễn Duyên T, Đinh Lê Q đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, bị cáo Q có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng thêm tình tiết khoản 2 Điều 51. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
- -Về nhân thân: Bị cáo T và Q đều có nhân thân xấu vì cả hai bị cáo đều có tiền án, chưa được xóa án tích.
- -Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự. Bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự.
- -Chị Vũ Thị Ngọc A là người bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
- Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 800.000 đồng (mỗi bị cáo 400.000 đồng)
- Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng (mỗi bị cáo 750.000 đồng).
[9] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- -Tịch thu sung công nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, có số IMEI 1: 354814095241432/01, số IMEI 2: 354815095241439/01 ( đã được niêm phong).
- -Tịch thu 01 áo khoác ngoài màu xám, mặt trong lưng áo sát cổ áo có chữ “MKCLEVER” size “M”, 01 quần dài (loại quần vải thể thao) màu xanh tím than, 01 áo khoác ngoài màu đen, mặt ngoài áo có nhiều hoa văn chìm, mặt trong lưng áo sát cổ áo có chữ “EPIN CHIEF” size “XL” và 01 đôi dép da xỏ ngón màu đen, có chữ “AISA” trên quai dép, thu giữ của bị cáo T do không còn giá trị sử dụng; biển kiểm soát: 29G1-161.18 của chị Nguyễn Thị Hồng V do không có yêu cầu lấy lại.
[10]Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggo, loại xe Vespa, màu trắng, số máy: M664M-4001701, số khung: RP8M66210AV000280, gắn biển kiểm soát: 29G1-161.18 (là phương tiện T và Q sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội): Ngày 29/11/2023, do không có tiền chi tiêu nên T và Q bàn bạc rồi cùng nhau đến nhà chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972 ở thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đặt vấn đề vay số tiền 1.500.000 đồng rồi để chiếc xe mô tô trên cho chị H1 để làm tin. Ngày 30/11/2023 chị H1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H (bút lục 104). Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô có số khung, số máy ở trên không phải mang biển kiểm soát 29G1-161.18 mà mang biển kiểm soát 29G1-006.57; đây là tài sản của anh Dương Đình T1, sinh năm 1981 trú tại số nhà A, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Chiếc xe trên anh T1 bị kẻ gian trộm cắp vào ngày 25/12/2012 tại phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Theo T khai chiếc xe trên T mua của một người thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ. T không biết chiếc xe trên là xe phạm tội mà có. Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan trong vụ án hình sự, bàn giao chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Hà Nội để điều tra theo thẩm quyền.
[11]Đối với anh Đặng Văn S: Sau khi được Q đưa cho sim điện thoại và căn cước công dân của chị Ngọc A, anh S đã chủ động liên lạc với chị Ngọc A để trả lại căn cước công dân đồng thời cung cấp thông tin về T và Q cho Cơ quan điều tra. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với hành vi của anh S trong vụ án này.
[12] Đối với anh Nguyễn Văn H: Khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus của T và Q, anh H không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[13] Đối với chị Nguyễn Thị H1: Khi T và Q đến đặt vấn đề vay tiền và để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggo, loại xe Vespa, màu trắng, gắn biển kiểm soát: 29G1-161.18; chị H1 không biết chiếc xe trên là phương tiện các đối tượng dùng để thực hiện hành vi phạm tội; cũng không biết về nguồn gốc chiếc xe nên không có căn cứ xem xét, xử lý.
[12] Về án phí:
Các bị cáo T, Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- -Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đinh Lê Q 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30/11/2023)
- -Áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duyên T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30/11/2023)
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Buộc các bị cáo Đinh Lê Q, Nguyễn Duyên T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự.
- - Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 800.000 đồng (mỗi bị cáo 400.000 đồng)
- Buộc bị cáo T và Q phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng ( mỗi bị cáo 750.000 đồng).
4.Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- -Tịch thu sung công nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, có số IMEI 1: 354814095241432/01, số IMEI 2: 354815095241439/01 ( đã được niêm phong).
- -Tịch thu 01 áo khoác ngoài màu xám, mặt trong lưng áo sát cổ áo có chữ “MKCLEVER” size “M”, 01 quần dài (loại quần vải thể thao) màu xanh tím than, 01 áo khoác ngoài màu đen, mặt ngoài áo có nhiều hoa văn chìm, mặt trong lưng áo sát cổ áo có chữ “EPIN CHIEF” size “XL” và 01 đôi dép da xỏ ngón màu đen, có chữ “AISA” trên quai dép, thu giữ của bị cáo T do không còn giá trị sử dụng; biển kiểm soát: 29G1-161.18 của chị Nguyễn Thị Hồng V do không có yêu cầu lấy lại.
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sự |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh lê Quyết và đồng phạm
