Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 11 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Văn Hòa.

Ông Nguyễn Văn Ngư.

Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Kim P, sinh ngày 13-4-1997, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp S, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim R, sinh năm 1955 và bà Lý Thị P1, sinh năm 1955; Vợ: Thạch Thị Kim P2, sinh năm 2001; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Vào ngày 21-11-2023, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo Kim P2: Ông Nguyễn Văn B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ nơi làm việc: Số A, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị hại:

1. Bà Trần Thị X, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

3. Ông Lương Tấn H, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

4. Bà Trần Thu V, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

5. Bà Lê Kim P3, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

6. Ông Ngô Hữu T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

7. Ông Trần Văn C, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

8. Ông Trần Bá Q, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

9. Ông Lý H1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Thạch H2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

2. Ông Lê Minh T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số F, kênh C, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

3. Ông Lý Thành T2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B, Đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

4. Bà Thạch Thị Kim P2, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

5. Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số A Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)

6. Bà Dương Thị Mỹ L1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

7. Bà Hồ Kiêm Đ, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 9-2022, bị cáo P2 giới thiệu là nhân viên Sở N, Công an ngầm của Công an tỉnh S, cháu của ông Lâm Văn M, đã giúp được nhiều người làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) và thấy bị cáo P2 sử dụng xe mô tô biển số xanh nên bị hại X đã tin tưởng, nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với 06 thửa đất ruộng được cha ruột tặng cho vào năm 2021 với chi phí trọn gói số tiền 19.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng, không làm được sẽ hoàn tiền gấp đôi. Sau đó, bị cáo P2 đã làm được GCNQSDĐ cho bị hại X.

Đến ngày 21-11-2022, bị hại X ủy quyền cho bị cáo P2 nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng để khởi kiện bà Nguyễn Thị H3 đòi tiền hụi. Bị hại X và bị cáo P2 ký hợp đồng ủy quyền, chi phí nộp đơn, thuê luật sư, phí công chứng hồ sơ trọn gói là 42.000.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết trong hạn 30 ngày, Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử. Sau đó, bị cáo P2 gia hạn thêm 90 ngày và giành thắng kiện, nếu thua kiện sẽ đền tiền gấp đôi. Trong thời gian này, bị hại X thỏa thuận nhờ bị cáo P2 thực hiện thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với phần đất nông nghiệp diện tích 6.500m², bị cáo P2 yêu cầu bị hại X đưa chi phí trọn gói là 16.000.000 đồng, cam kết thực hiện xong trong thời hạn 45 ngày, nếu không làm được sẽ bồi thường gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau đó, bị hại X đã 05 lần đưa cho bị cáo P2 số tiền 58.000.000 đồng, bị cáo P2 ghi 02 phiếu thu tiền cho bị hại X (01 phiếu thu số tiền 42.000.000 đồng, 01 phiếu thu số tiền 16.000.000 đồng). Sau khi nhận tiền, bị cáo P2 chỉ thực hiện việc nộp đơn khởi kiện, không thực hiện thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ tháng 10-2022 đến tháng 5-2023, lợi dụng các bị hại muốn làm được GCNQSDĐ, bị cáo P2 đã dùng thủ đoạn gian dối như: Bị cáo P2 làm việc trong cơ quan Nhà nước, có nhiều mối quan hệ với cán bộ Nhà nước, có khả năng làm được GCNQSDĐ, sử dụng xe mô tô biển số xanh mang biển kiểm soát 83B1-0828, đội mũ bảo hiểm ngành Công an nhằm tạo niềm tin để các bị hại tin tưởng nhờ thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSDĐ, từ đó bị cáo P2 đã chiếm đoạt của các bị hại số tiền 120.300.000 đồng, nhưng thực tế bị cáo P2 không có mối quan hệ quen biết với cán bộ Nhà nước, không có khả năng làm được GCNQSDĐ, sau khi chiếm đoạt được tiền của các bị hại đã tiêu xài cá nhân hết, cụ thể:

- Vụ thứ 1: Vào khoảng tháng 10-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại Hợi gặp gỡ, tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 giới thiệu có nhận làm dịch vụ cấp GCNQSDĐ, có học Luật đất đai, có nhiều người nhờ và bị cáo P2 đã làm được nhiều GCNQSDĐ. Thấy bị cáo P2 đi xe biển số xanh, đội mũ bảo hiểm, đi giày ngành Công an nên đã tin tưởng, nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với 08 thửa đất ruộng, diện tích khoảng 34.000m² do chủ đất cũ chuyển nhượng nhưng không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bị cáo P2 đồng ý nhận với thù lao 15.000.000 đồng, các khoản phí sẽ do bị hại H đóng. Bị cáo P2 yêu cầu bị hại H đưa trước số tiền 4.000.000 đồng và cam kết thực hiện xong trong thời hạn 30 ngày, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại H đã đưa cho bị cáo P2 số tiền 2.000.000 đồng, ngày 27-10-2022 bị hại H đưa bị cáo P2 số tiền 2.000.000 đồng, ngày 29-12-2022 bị cáo P2 yêu cầu bị hại H đưa số tiền 11.000.000 đồng, bị hại H đã đưa tiền và bị cáo P2 ghi phiếu thu tiền số tiền 11.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ, chiếm đoạt của bị hại Hợi số tiền 15.000.000 đồng.

- Vụ thứ 2: Vào ngày 11-12-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại T tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 giới thiệu là nhân viên Sở Nội vụ tỉnh N, Công an ngầm Công an tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết với cơ quan Nhà nước, cháu của ông Lâm Văn M. Thấy bị cáo P2 đi xe biển số xanh nên bị hại T tin tưởng, thỏa thuận nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với phần đất lúa mua của ông Hồ Văn Ú nhưng do GCNQSDĐ đang thế chấp cho Ngân hàng, chưa sang tên tách thửa được. Bị cáo P2 nói với bị hại T, bị cáo P2 có quen biết người làm trong Ngân hàng sẽ lấy được GCNQSDĐ của ông Hồ Văn Ú ra để tách thửa cho bị hại T và yêu cầu bị hại T đưa chi phí trọn gói 12.000.000 đồng, phải đưa trước số tiền 8.000.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết thực hiện xong trong thời hạn 45 ngày, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại T đã đưa cho bị cáo P2 số tiền 8.000.000 đồng, ngày 23-12-2022 bị hại T đưa bị cáo P2 số tiền 2.000.000 đồng, ngày 19-02-2023 bị hại T đưa bị cáo P2 số tiền còn lại 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại T số tiền 12.000.000 đồng.

- Vụ thứ 3: Vào ngày 14-12-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại V tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 giới thiệu là nhân viên Sở Nội vụ tỉnh N, Công an ngầm Công an tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết với cơ quan Nhà nước, cháu của ông Lâm Văn M, đã làm được GCNQSDĐ cho nhiều người. Thấy bị cáo P2 đi xe biển số xanh nên bị hại V tin tưởng, thỏa thuận nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với phần đất ruộng, diện tích khoảng 5.184m² do bị hại V mua của chủ đất cũ, không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chủ đất cũ không còn sinh sống ở địa phương. Bị cáo P2 yêu cầu bị hại V đưa chi phí trọn gói 20.000.000 đồng, phải đưa trước 10.000.000 đồng, cam kết thực hiện xong trong thời hạn tối đa 03 tháng, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại V đã đưa bị cáo P2 số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo P2 có viết phiếu thu cho bị hại V. Khoảng 14 ngày sau bị cáo P2 yêu cầu bị hại V đưa bị cáo P2 số tiền 1.500.000 đồng nói là phí “Niêm yết”, sau đó bị hại V đã đưa bị cáo P2 số tiền 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo P2 không liên lạc với chủ đất cũ để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại V số tiền 11.500.000 đồng.

- Vụ thứ 4: Vào ngày 14-12-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại C được bị hại X cho biết bị cáo P2 làm được GCNQSDĐ, bị hại C tin tưởng, tiếp xúc và thỏa thuận với bị cáo P2 làm GCNQSDĐ đối với phần đất lâu năm, đất ruộng với diện tích khoảng 11.000m². Bị cáo P2 yêu cầu bị hại C đưa chi phí trọn gói 11.800.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết thực hiện xong trong thời hạn 45 ngày, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại C đưa bị cáo P2 số tiền 2.000.000 đồng, ngày 24-12-2022 bị hại C đưa bị cáo P2 số tiền 3.000.000 đồng, ngày 04-01-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại C đưa số tiền 3.000.000 đồng, ngày 24-01-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại C đưa số tiền 3.800.000 đồng. Bị cáo P2 có ghi phiếu thu cho bị hại C, sau đó bị cáo P2 yêu cầu bị hại C đưa bị cáo P2 số tiền 3.800.000 đồng để làm chi phí đi lại và bị hại C đã đưa cho bị cáo P2. Tuy nhiên, bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại C số tiền 15.600.000 đồng.

- Vụ thứ 5: Vào ngày 14-12-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại P3 tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 giới thiệu làm ở Sở Nội vụ tỉnh N, làm ở Tòa án, Công an ngầm Công an tỉnh S, có nhiều mối quan hệ quen biết với cơ quan Nhà nước, cháu của ông Lâm Văn M. Thấy bị cáo P2 sử dụng xe mô tô biển số xanh nên bị hại P3 tin tưởng, thỏa thuận nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với phần đất ruộng, diện tích khoảng 8.000m² do mẹ ruột của bị hại P3 là bà Hồ Kim Đ1 mua của chủ đất cũ, không có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chỉ có giấy viết tay. Bị cáo P2 yêu cầu bị hại P3 đưa chi phí trọn gói 26.000.000 đồng, phải đưa trước cho bị cáo P2 10.000.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết thực hiện xong trong thời hạn từ 30 ngày đến 45 ngày, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại P3 đã chuyển khoản cho bị cáo P2 số tiền 10.000.000 đồng và bị cáo P2 có viết phiếu thu cho bị hại P3. Đến ngày 22-12-2022, bị cáo P2 yêu cầu bị hại P3 đưa số tiền 5.000.000 đồng và bị hại P3 đã chuyển khoản cho bị cáo P2, ngày 19-01-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại P3 đưa bị cáo P2 số tiền 5.000.000 đồng, bị hại P3 không đồng ý, nói khi nào làm xong giấy mới đưa. Từ khi nhận tiền, bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại P3 số tiền 15.000.000 đồng.

- Vụ thứ 6: Vào ngày 21-12-2022, qua mối quan hệ quen biết với bị hại X, bị hại K tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 giới thiệu làm ở Sở Tài nguyên môi trường tỉnh N và thấy bị cáo P2 thường đi xe biển số xanh nên bị hại K tin tưởng, nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ đối phần đất cây lâu năm lên thổ cư diện tích khoảng 1.090m². Bị cáo P2 yêu cầu bị hại K đưa chi phí trọn gói 15.000.000 đồng, phải đưa trước số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết thực hiện xong trong thời hạn 15 ngày, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị K đưa cho bị cáo P2 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 31-12-2022 bị cáo P2 yêu cầu bị hại K đưa số tiền 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ khi nhận tiền bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại K số tiền 15.000.000 đồng.

- Vụ thứ 7: Vào tháng 01-2023, qua cậu ruột tên Lê Văn C1 làm nghề xe cuốc giới thiệu bị cáo P2 làm được GCNQSDĐ, bị hại Q tiếp xúc với bị cáo P2, thấy bị cáo P2 đi xe mô tô biển số xanh, đội mũ bảo hiểm ngành Công an nên bị hại Q tin tưởng, nhờ bị cáo P2 làm GCNQSDĐ đối với 02 thửa đất ruộng diện tích khoảng 10.000 m². Bị cáo P2 và bị hại Q thỏa thuận chi phí phải nộp theo quy định do bị hại Q chi trả, chi phí trọn gói 13.700.000 đồng. Bị cáo P2 cam kết thực hiện xong trong thời hạn từ 01 tháng đến 02 tháng, nếu không sẽ đền tiền gấp đôi, hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi thỏa thuận xong, bị hại Q có đưa cho bị cáo P2 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 23-3-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại Q đưa số tiền 3.700.000 đồng và bị hại Q đã đưa bị cáo P2. Sau khi nhận tiền, bị cáo P2 lập phiếu thu đưa cho bị hại Q, viết cho bị hại Q 01 giấy hợp đồng. Tuy nhiên, bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại Q số tiền 13.700.000 đồng.

- Vụ thứ 8: Vào ngày 20-4-2023, bị hại H1 tiếp xúc với bị cáo P2, bị cáo P2 nói với bị hại H1 có quen biết nhiều cán bộ Nhà nước bên bộ phận làm GCNQSDĐ nên làm được hồ sơ chuyển nhượng đất đai ở các huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng và lấy ra nhiều bộ hồ sơ đăng ký đất đai đã nhận làm. Thấy bị cáo P2 đi xe mô tô biển số xanh, đội mũ bảo hiểm ngành Công an nên bị hại H1 tin tưởng, nhờ bị cáo P2 làm thủ tục đăng ký GCNQSDĐ đối với phần đất trồng cây lâu năm diện tích 660m² do bị hại H1 chuyển nhượng của người khác, chưa tách thửa. Bị cáo P2 nói với bị hại H1 thời hạn làm hồ sơ chuyển nhượng sang tên cho bị hại H1 là 30 ngày, chi phí trọn gói 20.000.000 đồng, muốn làm nhanh cho thêm số tiền 2.500.000 đồng và yêu cầu bị hại H1 đưa trước số tiền 8.000.000 đồng, bị hại H1 đồng ý, đưa tiền cho bị cáo P2. Đến ngày 27-4-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại H1 đưa số tiền 10.000.000 đồng, ngày 22-5-2023 bị cáo P2 yêu cầu bị hại H1 đưa đủ số tiền 4.500.000 đồng, bị hại H1 đã đưa đủ cho bị cáo P2 số tiền 22.500.000 đồng. Tuy nhiên, từ khi nhận tiền bị cáo P2 không thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp GCNQSDĐ theo thỏa thuận, chiếm đoạt của bị hại H1 số tiền 22.500.000 đồng.

- Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định tạm giữ:

Tạm giữ của bị hại Xuyên: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 42.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 16.000.000 đồng; 01 (một) hợp đồng ủy quyền; 01 (một) vận đơn bưu điện ngày 13-12-2022; tạm giữ của bị hại V: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 20.000.000 đồng; tạm giữ của bị hại P3: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 26.000.000 đồng; 02 (hai) tờ giấy chuyển tiền; tạm giữ của bị hại T: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 11-12-2022, số tiền theo giá nhà nước; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-12-2022, số tiền tạm ứng 2.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng; tạm giữ của bị hại C: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 24-12-2022, số tiền Việt Nam 11.800.000 đồng; tạm giữ của bị hại Hợi: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 29-12-2022, số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng; 01 (một) giấy biên nhận ngày 23-02-2023, nội dung đã nhận đủ 15.000.000 đồng, ký tên Kim P2; tạm giữ của bị hại Trần Bá Q: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 07-01-2023, số tiền tính theo giá nhà nước, tạm ứng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-3-2023, số tiền Việt Nam 3.700.000 đồng; tạm giữ của bị hại Lý Hồng: 02 (hai) tờ A4, nội dung sao kê tài khoản ngân hàng; tạm giữ của bà Thạch Thị Kim P2: 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông Trần Văn C; 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông Lương Tân H4; 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông Lý H1; 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông Trần Bá Q.

Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng:

Trả cho bị hại Trần Văn C 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông C; trả cho bị hại Lương Tân H4 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông H4; trả cho bị hại L 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông H1; trả cho bị hại Trần Bá Q 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký GCNQSDĐ của ông Q. Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra Công an huyện C lưu theo hồ sơ vụ án. Đối với xe mô tô biển số xanh, biển kiểm soát 83B1-0828 ông Lê Minh T1 mua đấu giá được, sau đó ông T1 đã bán lại cho người khác nhưng không rõ họ, tên, địa chỉ, không có làm giấy tờ mua bán, không thu hồi được.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại X yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 58.000.000 đồng; bị hại V yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 11.500.000 đồng; bị hại P3 yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 15.000.000 đồng; bị hại C yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 15.600.000 đồng; bị hại K yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 15.000.000 đồng; bị hại T yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 12.000.000 đồng; bị hại Q yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 13.700.000 đồng; bị hại H1 yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 22.500.000 đồng; bị hại H4 yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền 15.000.000 đồng và 03 (ba) GCNQSDĐ tên Bùi Hữu Đ2, Trần Văn Đ3, Bùi Thị Y.

- Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKS-CT ngày 15-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo P2 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo P2. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo P2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174, Điều 38, Điều 50, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo P2 mức hình phạt từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án số: 53/2023/HSST ngày 21-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, hình phạt chung bị cáo P2 phải chấp hành từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-6-2023.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo P2 về việc hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể: Hoàn trả cho bị hại Xuyên số tiền 58.000.000 đồng; hoàn trả cho bị hại V số tiền 11.500.000 đồng; hoàn trả cho bị hại P3 số tiền 15.000.000 đồng; hoàn trả cho bị hại C số tiền 15.600.000 đồng; hoàn trả cho bị hại K số tiền 15.000.000 đồng; hoàn trả cho bị hại T số tiền 12.000.000 đồng hoàn trả cho bị hại Q số tiền 13.700.000 đồng; hoàn trả cho bị hại H1 số tiền 22.500.000 đồng; hoàn trả cho bị hại Hợi số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại H4 không yêu cầu xem xét giải quyết hành vi làm mất 03 (ba) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Bùi Hữu Đ2, Trần Văn Đ3 và Bùi Thị Y trong vụ án này nên không có căn cứ để xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 42.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 16.000.000 đồng; 01 (một) hợp đồng ủy quyền; 01 (một) vận đơn bưu điện ngày 13-12-2022; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 20.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 26.000.000 đồng; 02 (hai) tờ giấy chuyển tiền; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 11-12-2022, số tiền theo giá nhà nước; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-12-2022, số tiền tạm ứng 2.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 24-12-2022, số tiền Việt Nam 11.800.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 29-12-2022, số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng; 01 (một) giấy biên nhận ngày 23-02-2023, nội dung đã nhận đủ 15.000.000 đồng, ký tên Kim P2; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 07-01-2023, số tiền tính theo giá nhà nước, tạm ứng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-3-2023, số tiền Việt Nam 3.700.000 đồng; 02 (hai) tờ A4 nội dung sao kê tài khoản ngân hàng, Cơ quan điều tra Công an huyện C đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo P2 thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng mà Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo P2 là người dân tộc thiểu số, nhất thời phạm tội, là lao động chính, còn con nhỏ phải chăm lo, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị xử phạt bị cáo P2 mức hình phạt 05 (năm) năm tù và cho bị cáo P2 được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.

Bị cáo P2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, bị cáo P2 xin giảm nhẹ hình phạt. Lời nói sau cùng, bị cáo P2 xin lỗi các bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại thống nhất với Cáo trạng truy tố đối với bị cáo P2; yêu cầu bị cáo P2 hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt và xử phạt bị cáo P2 theo quy định của pháp luật, riêng bị hại V yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại bà Trần Thị X, bà Nguyễn Thị Thúy K, ông Lương Tấn H, ông Trần Văn C, bà Lê Kim P3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ánông Thạch H2, ông Lê Minh T1, ông Lý Thành T2, bà Thạch Thị Kim P2, bà Huỳnh Thị Mỹ L, bà Dương Thị Mỹ L1, bà Hồ Kiêm Đ vắng mặt. Bị cáo P2, người bào chữa, các bị hại có mặt tại phiên tòa yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người tham gia tố tụng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, riêng bị hại Lê Kim P3 xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Thạch H2, ông Lê Minh T1, bà Thạch Thị Kim P2, bà Hồ Kiêm Đ xin vắng mặt và có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo P2, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo P2 thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10-2022 đến tháng 5-2023 trên địa bàn xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị cáo P2 đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối như: Sử dụng xe mô tô biển số xanh biển kiểm soát 83B1-0828, đội nón bảo hiểm ngành Công an khi tiếp xúc với các bị hại; đưa ra các thông tin gian dối như: Giới thiệu bị cáo là cán bộ Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N, nhân viên Sở Nội vụ tỉnh N, Công an ngầm Công an tỉnh S, có quen biết người làm trong Ngân hàng, cháu của ông Lâm Văn M, có học Luật đất đai, quen biết nhiều người làm trong cơ quan Nhà nước, đã nhận và làm được nhiều GCNQSDĐ, bao trọn gói chi phí làm thủ tục đăng ký GCNQSDĐ, cam kết với các bị hại trong thời hạn từ 15 ngày đến 45 ngày sẽ hoàn thành, nếu không làm được sẽ đền tiền gấp đôi. Từ đó các bị hại đã tin tưởng giao tiền cho bị cáo P2 để thực hiện thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ, đã chiếm đoạt của 09 bị hại số tiền 136.300.000 đồng.

[4] Tại Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...”

[5] Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo P2 là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn chiếm đoạt tài sản (tiền) của các bị hại, bị cáo P2 đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra nhiều thông tin gian dối làm cho các bị hại tin tưởng, đã chiếm đoạt của các bị hại số tiền 136.300.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo P2 đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Như vậy, Cáo trạng số: 35/CT-VKS-CT ngày 15-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo P2 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[7] Hành vi của bị cáo P2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo thật nghiêm để bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập trở thành công dân biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

[8] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P2 như sau: Bị cáo P2 có nhân thân xấu, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa có tiền án, chưa có tiền sự, nhưng bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Số tiền bị cáo P2 chiếm đoạt được từng lần phạm tội đều trên 2.000.000 đồng nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; được bị hại V xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo P2 tự nguyện hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo P2. Bị hại H không yêu cầu xem xét, giải quyết hành vi làm mất 03 (ba) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Bùi Hữu Đ2, Trần Văn Đ3 và Bùi Thị Y trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 42.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 16.000.000 đồng; 01 (một) hợp đồng ủy quyền; 01 (một) vận đơn bưu điện ngày 13-12-2022; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 20.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 26.000.000 đồng; 02 (hai) tờ giấy chuyển tiền; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 11-12-2022, số tiền theo giá nhà nước; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-12-2022, số tiền tạm ứng 2.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 24-12-2022, số tiền Việt Nam 11.800.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 29-12-2022, số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng; 01 (một) giấy biên nhận ngày 23-02-2023, nội dung đã nhận đủ 15.000.000 đồng, ký tên Kim P2; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 07-01-2023, số tiền tính theo giá nhà nước, tạm ứng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-3-2023, số tiền Việt Nam 3.700.000 đồng; 02 (hai) tờ A4 nội dung sao kê tài khoản ngân hàng, Cơ quan điều tra Công an huyện C đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[11] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo P2 mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị. Đồng thời, tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án bị cáo đang chấp hành, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án.

[12] Người bào chữa cho bị cáo P2 đề nghị xử phạt bị cáo P2 mức hình phạt 05 (năm) năm tù là có căn cứ chấp nhận.

[13] Bị cáo P2 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; có nghĩa vụ hoàn trả cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo P2 thuộc trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm và có đơn xin miễn án phí sơ thẩm nên xem xét cho bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.

[14] Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 47, điểm c Khoản 2 Điều 174, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Kim P2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Kim P2 05 (năm) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án số: 53/2023/HS-ST ngày 21-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng buộc bị cáo Kim P2 phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-6-2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Kim P2 về việc hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể:

Hoàn trả cho bị hại Trần Thị X số tiền 58.000.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Trần Thu V số tiền 11.500.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Lê Kim P3 số tiền 15.000.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Trần Văn C số tiền 15.600.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Nguyễn Thị Thúy K số tiền 15.000.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Ngô Hữu T số tiền 12.000.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Trần Bá Q số tiền 13.700.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Lý Hồng số tiền 22.500.000 đồng. Hoàn trả cho bị hại Lương Tân H4 số tiền 15.000.000 đồng.

Bị hại Lương Tân H4 không yêu cầu xem xét giải quyết hành vi làm mất 03 (ba) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Bùi Hữu Đ2, Trần Văn Đ3 và Bùi Thị Y trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng:

Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 42.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 13-12-2022, số tiền Việt Nam 16.000.000 đồng; 01 (một) hợp đồng ủy quyền; 01 (một) vận đơn bưu điện ngày 13-12-2022; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 20.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 14-12-2022, số tiền Việt Nam 26.000.000 đồng; 02 (hai) tờ giấy chuyển tiền; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 11-12-2022, số tiền theo giá nhà nước; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-12-2022, số tiền tạm ứng 2.000.000 đồng, tổng cộng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 24-12-2022, số tiền Việt Nam 11.800.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 29-12-2022, số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng; 01 (một) giấy biên nhận ngày 23-02-2023, nội dung đã nhận đủ 15.000.000 đồng, ký tên Kim P2; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 07-01-2023, số tiền tính theo giá nhà nước, tạm ứng 10.000.000 đồng; 01 (một) phiếu thu màu hồng ngày 23-3-2023, số tiền Việt Nam 3.700.000 đồng; 02 (hai) tờ A4 nội dung sao kê tài khoản ngân hàng.

4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Kim P2 thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thành Đạt

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Châu Thành, ngày 20 tháng 9 năm 2024

Số: 15/2024/TB-TA

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng có thiếu sót, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung, tại các dòng 15, 16, từ trên xuống, trang 13 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“Hoàn trả trả cho bị hại Lương Tân H4 số tiền 15.000.000 đồng.

Bị hại Lương Tân H4 không yêu cầu xem xét giải quyết hành vi...”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung, tại các dòng 15, 16, từ trên xuống, trang 13 của Bản án sơ thẩm:

“Hoàn trả trả cho bị hại Lương Tân H4 số tiền 15.000.000 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án còn phải chịu tiền lãi do chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Bị hại Lương Tân H4 không yêu cầu xem xét giải quyết hành vi...”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thành Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Kim Phương phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger