|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 09 - 2024 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Nhật Đại
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 07 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: tổ F, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang;
- - Bị đơn: chị Lộc Thị H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: tổ F, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 05/07/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày: anh và chị Lộc Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V vào ngày 14/11/2002 theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại tổ F, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về vấn đề kinh tế, anh N đưa khoản tiền lớn cho chị Lộc Thị Hoàng c để quản lý nhưng chị H không trung thực, tự ý mang tiền của hai vợ chồng đi chi tiêu vào việc gì không biết, không bàn bạc và không được sự đồng ý của anh khiến cho tình cảm vợ chồng rạn nứt. Gia đình đã hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và anh chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, do chị H tự ý bỏ nhà đi không thông báo cho anh N biết. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn gì, có níu kéo cũng không có hạnh phúc, nên anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lộc Thị H. Về con chung: anh chị có 02 con là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/05/2003 và cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/08/2008. Cháu T đã đủ 18 tuổi nên anh N không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết. Khi ly hôn, anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: anh N không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệp tập chị Lộc Thị H nhiều lần nhưng chị H không có mặt để tham gia tố tụng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với tổ trưởng tổ 6; công chức tư pháp UBND thị trấn Việt Quang; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thị trấn V, chị Nguyễn Thị P là chị gái ruột của anh Nguyễn Văn N, Trưởng công an thị trấn V phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Văn N và chị Lộc Thị H như sau: anh Nguyễn Văn N và chị Lộc Thị H tự nguyện về chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V từ năm 2002 theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn do vấn đề kinh tế trong gia đình, anh N đưa tiền cho vợ quản lý nhưng chị H không minh bạch, không rõ ràng, chi tiêu không bàn bạc với chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị H đã đi làm ăn ở xa được khoảng mấy tháng nay, không rõ địa chỉ nơi làm việc, vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị không đề nghị hòa giải tại tổ dân phố và UBND xã. Chị H đi làm ăn xa nhưng chưa cắt chuyển khẩu. Về con chung, quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/05/2003 và cháu Nguyễn Văn K sinh ngày 18/08/2008. Cháu T đã đủ 18 tuổi, cháu K từ khi mẹ đi vắng do bố trực tiếp nuôi dưỡng có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định, do đó nếu vợ chồng ly hôn nên giao cháu K cho bố trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/08/2008, cháu K có nguyện vọng được ở với bố.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Văn N được ly hôn chị Lộc Thị H. Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/05/2003 và cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/08/2008. Cháu Nguyễn Văn T đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Văn K cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn N có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là chị Lộc Thị H, chị Lộc Thị H có nơi cư trú tại tổ F, thị trấn V, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Lộc Thị H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn N và chị Lộc Thị H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn N và chị Lộc Thị H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến đầu năm 2023 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm về vấn đề kinh tế, chi tiêu trong gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay anh Nguyễn Văn N có yêu cầu xin ly hôn chị Lộc Thị H. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Nguyễn Văn N được ly hôn chị Lộc Thị H.
[4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/05/2003 và cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/08/2008. Cháu Nguyễn Văn T đã đủ 18 tuổi nên anh N không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, chị H không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến đề nghị giải quyết việc nuôi con; cháu Nguyễn Văn T đã đủ 18 tuổi nên không đề cập giải quyết, cháu Nguyễn Văn K là con trai, cháu có nguyện vọng được ở với bố. Mặt khác, tại các biên bản xác minh điều kiện nuôi con với người thân và chính quyền địa phương cung cấp từ khi chị H đi vắng cháu K do bố trực tiếp nuôi dưỡng có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn Văn K cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, chị Lộc Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: nguyên đơn anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn N được ly hôn chị Lộc Thị H.
2. Về việc nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/05/2003 và cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/08/2008. Cháu Nguyễn Văn T đã đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Khi ly hôn anh Nguyễn Văn N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Văn K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Lộc Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, anh N, chị H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0002110 ngày 05 tháng 7 năm 2024.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hải Hà |
5
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Ng-H
