Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Đẹp - Cán bộ hưu trí;

Bà Trương Thị Bạch Yến - Giảng viên trường Đại học Đồng Tháp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 20/5/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Phan Thành T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Tí Đô; Sinh ngày: 18/7/2006; Nơi sinh: thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Số E đường N, tổ H, khóm E, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện tại: 182/13 đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Hoàn cảnh gia đình: Cha Nguyễn Văn K, sinh năm: 1974; Mẹ Phan Thị T1, sinh năm: 1975; A, chị, em: 01 người, tên Phan Thị Bé Q, sinh năm 1995; Vợ, con: chưa có

Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không (Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố S trong một vụ án khác)

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Lê Ngọc Triều V; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Boy; Sinh ngày: 28/10/2007; Nơi sinh: thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số G Lô A, KDC Văn Thắng, ấp P, xã T thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Hoàn cảnh gia đình: Cha Lê Ngọc B, sinh năm: 1975; Mẹ Lê Thị Bích P, sinh năm: 1972; A, chị, em: 01 người, tên Lê Ngọc Tường V1, sinh năm 2001; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Phan Thành T (cha, mẹ của bị cáo):

Ông Nguyễn Văn K - sinh năm: 1974 (có mặt)

Bà Phan Thị T1 - sinh năm: 1975 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Số A, đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Ngọc Triều V2 (cha, mẹ của bị cáo):

Ông Lê Ngọc B - sinh năm: 1975 (có mặt)

Bà Lê Thị Bích P - sinh năm: 1972 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Số G, Lô A, KDC Văn Thắng, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phan Thành T và bị cáo Lê Ngọc Triều V: Ông Hà Văn N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, Chi nhánh số 1.

- Bị hại:

1. Nguyễn Thị T2 - sinh năm: 1970. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số D, ấp T, xã T, thành phố S, Đồng Tháp.

2. Trần Văn Đ - sinh năm: 1980. (vắng mặt)

Nơi cư trú: đường T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lê Thị Đ1 - sinh năm: 1970. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số F, ấp T, xã T, thành phố S, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phan Thành T và Lê Ngọc Triều V là bạn bè quen biết ngoài xã hội, cả hai đều không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Lê Ngọc T3 Vĩ điều khiển xe mô tô biển số 66L3-1038 đến nhà của T chơi, đến 23 giờ T rủ V trộm cắp tài sản; V đồng ý nên cả hai cùng bàn bạc và thống nhất đi tìm tài sản của người dân để sơ hở lấy trộm. Trong đêm 30/12/2023, V và T đã thực hiện tổng cộng 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 30/12/2023, V điều khiển xe mô tô, biển số 66L3-1038 chở T đi xung quanh địa bàn thành phố S để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến gần quán nhậu “Cần mồi và B1”, tọa lạc đường T thuộc khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, lúc này cả hai phát hiện nhà của một hộ dân không số có để 01 cái bàn tròn bằng Inox màu trắng của ông Trần Văn Đ nên V dừng lại quan sát thấy không có ai trông giữ nên kêu T đi vào lấy cái bàn mang ra để V đứng bên ngoài cảnh giới canh đường. T đi vào lấy được bàn inox thì V điều khiển xe chở T mang cái bàn I vừa lấy trộm về cất giấu tại một bãi đất trống trên đường P, thuộc Khóm C, Phường C, thành phố S.

Vụ thứ hai: Sau khi cất giấu cái bàn I vừa lấy trộm xong T và V tiếp tục đi tìm tài sản để lấy trộm, V điều khiển xe mô tô, biển số 66L3-1038 chở T đi xung quanh các tuyến đường trên địa bàn thành phố S tìm tài sản của người dân để sơ hở. Khi đi đến trước hộ số 60, ấp T, xã T, thành phố S, cả hai phát hiện 19 cái ghế bằng Inox màu trắng của bà Lê Thị Đ1 đang để ở bờ sông, nên V dừng xe lại, T đứng cảnh giới, canh đường còn V đi lại vị trí lấy 05 cái ghế rồi mang lại chỗ T đậu xe chờ sẵn. Vĩ điều khiển xe chở T mang 05 cái ghế bằng I vừa lấy trộm về cất giấu tại chỗ giấu cái bàn trước đó. Sau đó cả 02 tiếp tục quay trở lại địa điểm nói trên hai lần nữa để lấy thêm 14 cái ghế bằng Inox (tổng cộng 03 lần T và V đã lấy 19 cái ghế bằng I) mang về cất giấu tại một bãi đất trống trên đường P.

Vụ thứ ba: Sau khi cất giấu 19 cái ghế bằng Inox vừa chiếm đoạt xong, cả hai bị cáo tiếp tục rủ nhau đi tìm tài sản để lấy trộm. Vĩ điều khiển xe mô tô biển số 66L3-1038 chở T đi phát hiện trước hộ số 455, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (do bà Nguyễn Thị T2 làm chủ hộ) có để 01 cái bàn bằng Inox nên V dừng xe, T canh đường, V đi vào trong sân lấy cái bàn bằng I mang ra rồi đem về cất giấu. Khi đến gần nơi cất giấu, thì lực lượng Công an thành phố S đi tuần tra phát hiện bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS, ngày 19/01/2024, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, kết luận như sau:

  • - 19 (Mười chín) cái ghế bằng Inox có thông số: chiều cao 100cm, đường kính mặt ghế 30cm, có giá trị: 2.755.000 đồng.
  • - 01 (Một) cái bàn bằng Inox có thông số: chiều cao 75cm, đường kính mặt bàn 117cm, có giá trị: 866.666 đồng.
  • - 01 (Một) cái bàn bằng Inox có thông số: chiều cao 71cm, đường kính mặt bàn 100cm, có giá trị: 350.000 đồng.

Tổng tài sản mà T và V chiếm đoạt trị giá: 3.971.666 đồng.

Quá trình điều tra đã thu hồi một số đồ vật, tài liệu sau:

  • - 19 cái ghế Inox có thông số: chiều cao 100cm, đường kính mặt ghế 30cm.
  • - 01 cái bàn Inox có thông số: chiều cao 75cm, đường kính mặt bàn 117cm.
  • - 01 cái bàn Inox có thông số: chiều cao 71cm, đường kính mặt bàn 100cm.
  • - 01 xe mô tô, biển số 66L3-1038, số khung 7A-011054, số máy: B011054, màu đen.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà Lê Thị Đ1 19 cái ghế bằng Inox có thông số: chiều cao 100cm, đường kính mặt ghế 30cm; Hoàn trả cho ông Trần Văn Đ 01 cái bàn bằng Inox có thông số: chiều cao 75cm, đường kính mặt bàn 117cm; Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T2 01 cái bàn bằng Inox có thông số: chiều cao 71cm, đường kính mặt bàn 100cm; Trao trả cho bà Lê Thị Bích P1 01 xe mô tô biển số 66L3-1038, số khung 7A-011054, số máy: B011054, màu đen. Bà Đ1, ông Đ, bà T2, bà P1 đã nhận đủ tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSTPSĐ ngày 10/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phan Thành T và Lê Ngọc Triều V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc Triều V về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 04 tháng đến 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Người bào chữa cho hai bị cáo phát biểu: Gia đình các bị cáo khó khăn, không quản lý giáo dục các bị cáo chặt chẽ, các bị cáo ham chơi, nên thực hiện hành vi phạm tội, không nghĩ tới hậu quả; các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm. Tại thời điểm phạm tội các bị cáo chưa thành niên, thành khẩn khai báo, hai bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, có mức hình phạt nhẹ nhất đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Hành vi phạm tội của hai bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 29/12/2023, bị cáo T đến nhà bị cáo V chơi, sau đó T rủ V đi trộm tài sản, V đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 30/12/2023, Lê Ngọc T3 Vĩ điều khiển xe mô tô biển số 66L1-1038 chở Nguyễn Phan Thành T trộm 19 ghế inox và 02 bàn inox, trị giá các tài sản hai bị cáo trộm là 3.971.666 đồng.

Các bị cáo nhận thức rõ hành vi lấy trộm tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật; nhưng hai bị cáo cố ý lấy trộm tài sản của các bị hại, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo T và V đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc truy tố bị cáo T và bị cáo V là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất, mức độ phạm tội: Hai bị cáo không có tiền, nhưng ham chơi. Để có tiền tiêu xài, bị cáo T rủ bị cáo V đi trộm tài sản; cả hai lợi dụng lúc đêm khuya, điều khiển xe máy lòng vòng xem nhà ai có để bàn, ghế inox trước cửa hay trước sân nhà là lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài; trong một đêm hai bị cáo thực hiện 03 lần lấy trộm tài sản của 03 người. Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy ít nghiêm trọng, nhưng thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T rủ bị cáo V lấy trộm tài sản và cùng thực hiện hành vi phạm tội; do đó đây là trường hợp “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, nên bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vì vậy áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Riêng bị cáo Thông gia đ có công cách mạng, nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T.

[7]. Hội đồng xét xử xét thấy, với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của hai bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên; cùng phát biểu bào chữa của người bào chữa; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; đồng thời áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, quy định tại Điều 91 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với hai bị cáo và cách ly hai bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để hai bị cáo có điều kiện được giáo dục, rèn luyện và có ý thức chấp hành quy định pháp luật, qua đó nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T, bị cáo V3 không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[10]. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

[11]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Phan Thành T, Lê Ngọc T3 Vĩ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phan Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phan Thành T 05 (năm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T3 Vỹ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T3 Vĩ 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Phan Thành T, bị cáo Lê Ngọc T3 Vĩ mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện của bị cáo; người bào chữa có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan THAHS TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan CSĐT TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VT, TP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thanh Mai

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Đẹp – Trương Thị Bạch Yến

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/TLST-HS ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phan Thành T và Lê Ngọc Triều V phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger