Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 11/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Quang

Bà Nguyễn Thị Yến

-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm xét xử kín vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/HSST- QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N; Sinh năm: 2000; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT, nơi ở: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa; Đảng phái: Không. Con ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1973; Con bà: Trần Thị T, sinh năm: 1979.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 03/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Hải A, sinh ngày 14/7/2007

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

Bà Trần Thị T1, sinh năm: 1979

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T1:

Bà Hoàng Thị V, sinh năm: 1964

Địa chỉ: Số C T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa, cháu A, bà T1, bà V có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 7/ 2022, bị cáo gặp và quen biết với cháu Lê Hải A. Sau đó, bị cáo và cháu Hải A thường xuyên nói chuyện qua ứng dụng mạng xã hội Facebook rồi phát sinh tình cảm nam nữ. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/5/2023, sau khi bị cáo và cháu Hải A dự đám cưới của chú ruột bị cáo, bị cáo rủ cháu Hải A về nhà ở thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định chơi. Khi về đến nhà thì không có ai ở nhà. Bị cáo và cháu Hải A vào nhà nói chuyện một lúc thì rủ cháu Hải A quan hệ tình dục, cháu Hải A đồng ý. Bị cáo đưa cháu Hải A vào phòng ngủ của mình. Cả hai lên giường nằm ôm hôn nhau, sau đó bị cáo tự cởi quần áo đang mặc, rồi cởi quần áo của cháu Hải A. Bị cáo nằm ở phía trên, cháu Hải A nằm phía dưới trong tư thế đối diện, bị cáo dùng tay phải cầm dương vật đang cương cứng đưa vào sâu trong âm đạo của cháu Hải A và di chuyển ra vào cọ sát với âm đạo để thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hải A. Được khoảng 02 phút thì xuất tinh trùng vào trong âm đạo của cháu Hải A, khi quan hệ tình dục cả hai không sử dụng biện pháp tránh thai, sau khi vệ sinh cá nhân xong thì bị cáo đưa cháu Hải A về nhà. Thời điểm quan hệ tình dục với bị cáo, cháu Hải A 15 tuổi 9 tháng 25 ngày. Sau đó, giữa bị cáo và cháu Hải A vẫn giữ quan hệ tình cảm nam nữ nhưng không phát sinh quan hệ tình dục lần nào khác. Đến khoảng tháng 9/2023, cháu Hải A phát hiện bản thân đã có thai được 04 tháng nên đã thông báo cho bị cáo và gia đình. Hai bên gia đình đã thống nhất, sau khi cháu Hải A sinh con sẽ tổ chức đám cưới. Đến ngày 17/01/2024, cháu Hải A sinh 01 bé trai tại Bệnh viện P, đặt tên là Lê Bảo A1. Ngày 19/02/2024, cháu Hải A đi làm giấy khai sinh cho cháu Lê Bảo A1 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình thì cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phát hiện cháu Hải A mang thai khi chưa đủ 16 tuổi nên đã thông báo cho Công an xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình. Công an xã B đã triệu tập lấy lời khai của bị cáo và Lê Hải A. Tại Công an xã, bị cáo đã khai nhận có hành vi giao cấu với cháu Hải A khi cháu Hải A chưa đủ 16 tuổi tại phòng ngủ của bị cáo ở thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Công an xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 06/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 189, T2 Bộ C giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa bị cáo, cháu Lê Hải A và cháu Lê Bảo A1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành trích sao Bệnh án sản khoa của Lê Hải A. Căn cứ Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án số 210/KH-CĐT ngày 05/3/2024 của Bệnh viện P xác định: Lê Hải A nhập viện lúc 12 giờ 28 phút ngày 16/01/2024, đến 06 giờ 05 phút ngày 17/01/2024 sinh con trai nặng 2100 gram ở tuần thai thứ 35, đặt tên là Lê Bảo A1. Khi sinh con, cháu Hải A 16 tuổi 6 tháng 03 ngày.

Ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N cùng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành cho bị cáo và cháu Lê Hải A xác định hiện trường vụ việc tại nhà ông Trần Văn Đ (là bố đẻ của bị cáo) ở thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Kết quả bị cáo và Lê Hải A đã xác định đúng địa điểm phòng ngủ của bị cáo tại thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, là nơi bị cáo đã giao cấu với cháu Hải A vào ngày 09/5/2023. Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản kết luận giám định số 1672/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của V1 Bộ C kết luận: Bị cáo và cháu Lê Bảo A1 có quan hệ huyết thống cha đẻ - con đẻ với nhau; Lê Hải A và cháu Lê Bảo A1 có quan hệ huyết thống mẹ đẻ - con đẻ với nhau.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho cháu Lê Hải A. Cháu Hải A đã nhận đủ số tiền bồi thường 10.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm d khoản 2 điều 145 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Căn cứ điểm d khoản 2 điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn N từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người đại diện cho bị hại xuất trình biên bản hòa giải thể hiện việc bị cáo, gia đình bị cáo hỗ trợ cho bị hại cùng gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Đồng thời, bị hại, người đại diện cho bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Công văn số 01/CAX ngày 27/02/2024 của Công an xã B, Tóm tắt bệnh án Hải A tại Bệnh viện P, Bản kết luận giám định số 1672/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của V1 Bộ C, lời khai của bị hại Lê Hải A. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 09/5/2023, tại phòng ngủ của bị cáo, tại nhà ông Trần Văn Đ (là bố đẻ của N) ở thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo và cháu Lê Hải A, sinh ngày 14/7/2007 đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau khi cháu Hải A 15 tuổi 9 tháng 25 ngày, dẫn đến cháu Hải A có thai và sinh con trai là cháu Lê Bảo A1 vào ngày 17/01/2024 tại Bệnh viện phụ sản tỉnh P. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc mình làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Do hậu quả của việc giao cấu làm cho bị hại có thai nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Bị hại, người đại diện bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án, tiền sự. Bản thân nhất thời phạm tội, xuất phát từ tình cảm yêu đương mà nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện cho bị hại không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
    • - Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
    • - Xử phạt Trần Văn N 02(Hai) năm 06(Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05(Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/6/2024).
    • - Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, bà T1, bà V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người đại diện bị hại;
  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKS nhân dân huyện Nam Trực;
  • - Công an huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - UBND xã Nam Thái;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn N - Giao cấu với người chưa đủ 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger