TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-9-2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chìu và ông Phạm Xuân Sang
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1978;
ĐKHKTT: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
Chỗ ở hiện nay: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
- Bị đơn: Anh Trần Công S, sinh năm 1977;
ĐKHKTT: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
-Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953;
+ Anh Trần Công C, sinh năm 1984
Đều trú tại: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
Chị T, anh S, anh C có mặt; bà V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị và anh Trần Công S kết hôn với nhau trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là xã C) ngày 28/4/2003. Sau khi kết hôn, anh chị vào TP Hồ Chí Minh làm ăn, đến năm 2013 chuyển về thôn K, xã C sinh sống. Vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong
cách sống, sinh hoạt, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã, anh S nhiều lần đánh chửi chị. Khoảng hơn 01 năm gần đây, anh S đi làm nhưng không đưa tiền hoặc chỉ đưa ít tiền cho chị nộp tiền điện, mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình, tiền học cho các con chủ yếu do một mình chị gánh vác. Tuy sống cùng nhà nhưng công việc của ai người đó làm, kinh tế của ai người đó lo, không quan tâm gì đến nhau. Chán nản với cuộc sống chung không có hạnh phúc nên từ tháng 6/2024, chị đã đưa hai con nhỏ về xã H, huyện H, tỉnh Nam Định sinh sống, anh S và gia đình đã 6 lần sang tìm nhưng chị xác định không còn tình cảm nên cương quyết không quay về đoàn tụ. Nay chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Trần Thị Phương T1, sinh ngày 24/5/2004, Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013. Đối với cháu T1 đã trưởng thành nên Tòa án không phải giải quyết, đối với cháu Đ và cháu T2 đã về ở với chị từ khi vợ chồng ly thân. Chị đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung Trần Tiến Đ và Trần Minh T2 và tự nguyện không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị làm lao động tự do, mức thu nhập trung bình khoảng từ 10 triệu đồng/tháng. Bố mẹ đẻ chị có phòng riêng cho mẹ con chị sinh hoạt và hỗ trợ chị trong việc nuôi con với những điều kiện tốt nhất.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, bị đơn anh Trần Công S trình bày:
+ Về hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn giống như chị T đã trình bày, sau khi kết hôn, vợ chồng đưa nhau vào TP Hồ Chí Minh làm ăn, đến năm 2013 thì quay về xã T (nay là xã C) sinh sống. Vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, không nghiêm trọng, có vài lần nóng tính nên anh có to tiếng với chị T. Nhưng không hiểu vì sao, chị T làm đơn xin ly hôn anh. Từ tháng 6/2024, chị T đã đưa hai con Trần Tiến Đ và Trần Minh T2 về nhà bố mẹ đẻ chơi nhưng sau đó không về nữa. Anh và gia đình đã 6 lần đến tìm thuyết phục chị T quay về, vợ chồng đoàn tụ, chị T chỉ nói anh cứ về trước, chị sẽ về sau nhưng lại không về nữa, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị T, anh mong muốn các con có cả bố và mẹ, vì vậy anh không nhất trí.
+ Về con chung: Vợ chồng có ba con chung như chị T đã trình bày là đúng, các cháu là Trần Thị Phương T1, sinh ngày 24/5/2004; Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013. Đối với cháu T1 đã trưởng thành nên Tòa án không phải giải quyết, đối với cháu Đ và cháu T2 đã về ở với chị T từ khi vợ chồng ly thân. Anh xin được nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 1.500.000 đồng/tháng kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp Tòa án giao cho mỗi người nuôi một con chung anh cũng nhất trí và hai bên không phải cấp dưỡng tiền
nuôi con chung cho nhau. Hiện anh làm công nhân, thu nhập khoảng 07 triệu đồng/tháng, đang ở ngôi nhà do vợ chồng xây trên đất của bố mẹ anh.
+ Về tài sản chung, nợ chung: anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Mặc dù anh S đã trình bày những nội dung trên, anh S đã được xem lại và xác định biên bản ghi lời khai, hòa giải đã ghi đúng ý kiến của mình nhưng không ký biên bản.
Kết quả làm việc với bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ anh S) xác định: Anh S, chị T được tự do tìm hiểu, tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, anh chị chuyển vào TP Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống, đến năm 2013 về quê sinh sống. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, không trầm trọng. Không hiểu vì lý do gì mà chị T đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó không quay lại chung sống cùng anh S nữa và làm đơn xin ly hôn. Đề nghị Tòa án tích cực hòa giải cho anh chị đoàn tụ, cùng nuôi dạy con chung. Anh S, chị T có ba con chung như anh chị đã trình bày, cháu lớn đã trưởng thành, đề nghị Tòa án giao cho mỗi người nuôi một con chung để giảm gánh nặng cho anh chị, trường hợp Tòa án giao con cho anh S nuôi dưỡng, bà nhất trí hỗ trợ anh S trong việc chăm sóc các cháu với những điều kiện tốt nhất.
Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã C, đại diện hội phụ nữ và Trưởng thôn Kim X đều được cung cấp: về thời gian và điều kiện kết hôn của anh S, chị T đúng như các đương sự đã trình bày. Sau khi kết hôn, anh chị chuyển vào TP Hồ Chí Minh làm ăn, đến năm 2013 về địa phương sinh sống. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ vấn đề kinh tế, anh S đi làm nhưng không đưa tiền hoặc chỉ đưa rất ít tiền cho chị T, mọi chị phí sinh hoạt trong gia đình, đóng học cho con chủ yếu do chị T gánh vác. Từ tháng 6/2024, chị T đã đưa hai con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, vợ chồng có 03 con chung như các đương sự đã trình bày, cháu lớn đã trưởng thành, hai cháu nhỏ sinh đôi đang ở với cùng với chị T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các con chung.
Tại phiên tòa, chị T trình bày bổ sung mâu thuẫn vợ chồng còn do anh S ghen tuông vô cớ, nên hay chửi bới, xúc phạm, có hôm chửi chị đến 2-3 giờ sáng. Chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh S (kể cả Tòa án xử bác đơn thì chị cũng cương quyết không quay về đoàn tụ với anh S) và xin được nuôi dưỡng con chung như đã trình bày. Anh S cung cấp cho HĐXX tài liệu sổ vay vốn của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Hải Dương (bản pho to), đề nghị chị T cùng phải có trách nhiệm về số nợ trên và đề nghị Tòa án xem xét, anh bổ sung thêm vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về cách nuôi dạy con, nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm không bỏ vợ, bỏ con nên không nhất trí ly hôn chị T. Về con, anh thay đổi quan điểm mỗi người nuôi một con, anh nuôi cháu nào cũng được và không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị T có quan điểm về số tiền vay nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Hải Dương là vay cho anh S khi bị tai nạn giao thông để bồi thường cho người bị tai nạn do anh ấy gây ra, do chị không yêu cầu chia tài sản chung mà để
anh S sử dụng tài sản chung nên anh ấy phải có trách nhiệm về số nợ. Trường hợp sau này anh chị không tự thỏa thuận, phân chia được tài sản, nợ thì chị sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
Tại phiên tòa, anh Trần Công C (em ruột anh S) đề nghị được trình bày nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh S, chị T là do chị T ở nhà bán hàng, chơi bời tụ tập dẫn đến có những điều tiếng không lành mạnh. Trong khi anh S đi làm về nghe thấy nên bức xúc, trong lúc nóng giận có chửi bới, đe dọa chứ chưa đánh chị T, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Trần Công S; Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T được nuôi dưỡng hai con chung Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T, anh S không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trần Công S kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là UBND xã C), huyện T ngày 28/4/2003 là hôn nhân hợp pháp.
[2] Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Theo chị T xác định, anh S đi làm nhưng chỉ đưa ít tiền, có tháng không đưa cho chị để chi phí sinh hoạt, đóng học cho con, mọi chi tiêu chủ yếu do chị gánh vác, ngoài ra anh S còn ghen tuông, nghi ngờ chị không chung thủy. Thời gian từ năm 2023 đến tháng 6/2024, tuy vẫn sống cùng nhà nhưng công việc của ai người đó làm, kinh tế của ai người đó lo. Mặc dù anh S và mẹ đẻ của anh S xác định vợ chồng chỉ có mâu thuẫn nhỏ, không nghiêm trọng. Tuy nhiên anh C (em trai anh S) xác định một hai năm trở lại đây, mâu thuẫn giữa anh S, chị T ngày một trầm trọng, vợ chồng có to tiếng, cãi vã, trong lúc nóng giận anh S có đe dọa đánh chị T. Mặc dù nguyện vọng của anh S mong muốn vợ chồng đoàn tụ là chính đáng, tuy nhiên chính anh cũng không lý giải được vì sao chị T bỏ về nếu vợ chồng chỉ có mâu thuẫn nhỏ, anh và gia đình cũng đã sang tìm chị T 6 lần nhưng chị T cương quyết không về. Điều đó chứng tỏ anh, chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do
vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, mỗi người có một quan điểm trái ngược nhau, anh chị không có yêu thương, chia sẻ, cùng nhau gánh vác gia đình, chăm sóc con chung. Lời khai của chị T phù hợp với biên bản làm việc giữa Toà án với trưởng thôn và đại diện các đoàn thể xã C và người làm chứng. Thực tế từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, anh S cũng không có giải pháp nào để vợ chồng đoàn tụ, tình cảm không có chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn với anh S là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
[3] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Trần Thị Phương T1, sinh ngày 24/5/2004, Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013. Đối với cháu T1 đã trưởng thành nên Tòa án không phải giải quyết, đối với cháu Đ và cháu T2 đang ở với chị T. Chị T xin nuôi dưỡng hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dưỡng. Tuy nhiên anh S không đồng ý với quan điểm của chị T, tại phiên tòa, anh đề nghị mỗi người nuôi dưỡng 01 con, cháu nào cũng được và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xét nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung của chị T, anh S đều là chính đáng, xuất phát từ tình cảm của cha mẹ đối với con, cả hai anh chị đều có việc làm và có thu nhập, anh S đã có chỗ ở, chị T cũng được gia đình tạo điều kiện về chỗ ở nuôi con nên cả anh chị đều thuộc trường hợp đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, để xem xét giao con cho ai nuôi dưỡng, cần xem xét một cách khách quan, toàn diện, tất cả vì lợi ích của con, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Đ và cháu T2 đều đã trên 7 tuổi đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ, điều đặc biệt là hai cháu sinh đôi nên từ nhỏ đã chung sống, sinh hoạt, học tập, chơi với nhau, ăn cùng ăn, ngủ cùng ngủ, hai cháu cũng đều có nguyện vọng đề nghị cho anh em ở với nhau để cùng hỗ trợ nhau trong sinh hoạt, học tập, nếu như phải tách ra để giao cho anh chị mỗi người nuôi một con thì sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý các cháu. Hơn nữa, sau khi được mẹ đưa về quê ở, hai cháu đã chuyển thủ tục, nhập học và bắt đầu đi học và đều học cùng lớp, nếu phải thay đổi môi trường sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của các con, chị T nuôi con cũng đảm bảo, các cháu phát triển tốt. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, HĐXX giao cho chị T được tiếp nuôi dưỡng hai con chung Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: Quá trình Tòa án thụ lý, làm việc, chị T, anh S đều xác định vợ chồng có tài sản là nhà ở và không khai vợ chồng có khoản nợ trên (nếu có) và đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, anh S mới cung cấp tài liệu bản pho to sổ vay vốn của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Hải Dương và đề nghị Tòa án xem xét. Theo quy định tại
khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Tại phiên tòa, anh S mới đề nghị nên HĐXX không thể xem xét giải quyết trong vụ án này. Vì vậy, trường hợp anh chị không thể tự thỏa thuận, giải quyết được với nhau về tài sản, nợ thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Trần Thị T khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Trần Công S
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trần Tiến Đ, sinh ngày 01/3/2013 và Trần Minh T2, sinh ngày 01/3/2013 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23, số 0004917 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T xin ly hôn anh Trần Công S và giải quyết về con chung
