Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Bằng và ông Nguyễn Duy Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Dương Văn H, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1988 tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Dương Văn H1 và bà Vũ Thị V; có vợ là Quách Thị Việt T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 21/01/2024, hiện tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Văn Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu D, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/01/2024, do cần tiền nên anh Hà Văn Q, sinh năm 1994; trú tại khu D, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ hỏi anh Hà Phi H2, sinh năm 1989 ở xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (anh H2 là bạn anh Q) là có biết ai cho vay lãi thì giới thiệu để

anh Q vay 400.000.000 đồng, anh Q sẽ cầm cố xe ô tô để bảo đảm khoản tiền vay. Sau đó anh H2 đã trao đổi với Dương Văn H, sinh năm 19; trú tại: Tổ dân phố L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc về việc anh Q muốn cầm cố xe ô tô để vay số tiền 400.000.000 đồng, nếu H có tiền thì cho anh Q vay, H đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H hẹn gặp anh H2 và anh Q ở quán P, địa chỉ: Số B, đường N, tổ dân phố M, phường L, thành phố V, Vĩnh Phúc. Tại đây, anh Q đặt vấn đề muốn cầm cố xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO, BKS: 88A - 552.30 của anh Q để vay H số tiền 400.000.000 đồng, H đồng ý cho anh Q vay với lãi suất là 3000 đồng/1 triệu/1 ngày, cắt lãi trước 02 tháng, điều kiện là anh Q phải viết giấy bán xe cho H với giá 900.000.000 đồng (Theo như H khai là việc viết giấy bán xe như trên để tránh sự phát hiện của cơ quan Công an về việc H cho vay lãi nặng), đồng thời để lại đăng ký xe ô tô và anh Q phải chịu phí công chứng hợp đồng mua bán xe, anh Q đồng ý. H đưa anh Q đến Văn phòng C ở số C, đường N, tổ dân phố M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để làm thủ tục mua bán xe. Tại văn phòng công chứng, chị Lê Thùy T1 - Công chứng viên, Trưởng Văn phòng công chứng thông báo tiền phí hết 1.600.000 đồng, nhưng do hết giờ làm việc nên chị T1 yêu cầu để lại các giấy tờ gồm: Bản phô tô căn cước công dân của anh Hà Văn Q và Dương Văn H, 01 bản phô tô đăng ký xe ô tô, 01 bản phô tô đăng kiểm xe ô tô, 02 bản gốc hợp đồng mua bán xe giữa anh Q và anh Đặng Quốc T2 (anh T2 là người đứng tên đăng ký xe ô tô BKS: 88A - 552.30), 04 hợp đồng uỷ quyền giữa chị Hoàng Thị N (vợ anh Q); anh Q và chị T1 hẹn ngày 16/01/2024 sẽ hoàn thiện hồ sơ công chứng. H và anh Q đồng ý để lại các giấy tờ trên, hai bên thỏa thuận H sẽ thanh toán tiền công chứng và anh Q sẽ trả tiền công chứng cho H sau. Sau đó H và anh Q quay lại quán P. Tại đây sau khi trừ đi 72.000.000 đồng tiền cắt lãi trước 02 tháng (từ ngày 15/01/2024 đến 14/3/2024) và 1.600.000 đồng tiền phí công chứng thì H đã sử dụng điện thoại chuyển số tiền 326.400.000 đồng từ tài khoản số [...] của H thuộc Ngân hàng TMCP Q1 (V1)- Chi nhánh tỉnh V vào tài khoản số 5588383999999 của anh Q thuộc Ngân hàng TMCP Q2 (MB). Ngay sau khi chuyển tiền xong thì Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01 Giấy bán xe đề ngày 15/01/2024 có chữ ký của bên mua là “Dương Văn H"; bên bán là “Hà Văn Q";
  • - 01 Đăng ký xe ô tô BKS: 88A-552.30 mang tên Đặng Quốc T2, sinh năm 1984 ở tổ dân phố C T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (bản gốc);
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO, màu trắng, BKS: 88A-552.30 (được niêm phong theo quy định);
  • - 01 chiếc bút bi màu đen.

Ngày 15/01/2024, Dương Văn H giao nộp 01 điện thoại Iphone 6S đã cũ, đã quan sử dụng, số IMEI 1: 353258076102893, IMEI 2: 35325887610289, đây là chiếc điện thoại H chuyển tiền vay cho anh Q khi bị bắt quả tang.

Như vậy tiền lãi Dương Văn H đã cắt của anh Q 1 ngày là 72.000.000 : 60 = 1.200.000 đồng/ ngày (tương đương 1 ngày là 1.200.000 đồng /400.000.000 đồng x 100% = 0,3%/ngày), lãi suất 1 năm là 0,3 x 365 = 109,5%/năm. Mức lãi được thu tối đa 20%/1 năm theo quy định của Bộ luật dân sự là: 400.000.000₫ x 20%/1 năm x 60 ngày = 13.150.684 đồng. Tổng số tiền lãi H đã thu lời bất chính là: 72.000.000 đồng - 13.150.684 đồng = 58.849.316 đồng.

Ngày 16/01/2024, chị Lê Thùy T1 - Trưởng Văn Phòng C đã giao nộp 02 bản gốc hợp đồng mua bán xe giữa anh Q và anh T2, 04 bản hợp đồng uỷ quyền giữa chị N và anh Q, 01 bản phô tô đăng ký xe ô tô, 01 bản phô tô đăng kiểm xe ô tô BKS 88A-552.30 cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V.

Về nguồn gốc xe ô tô, quá trình điều tra xác định: Ngày 15/01/2024 anh Hà Văn Q cùng vợ là chị Hoàng Thị N mua của anh Đặng Quốc T2, sinh năm 1984 cùng vợ là Vũ Thị Hồng L, sinh năm 1986; đều trú tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc chiếc xe ô tô KIA SORENTO, BKS: 88A - 552.30 với giá 900.000.000đ nhưng chưa làm thủ tục sang tên, mới làm hợp đồng mua bán tại Văn Phòng C1 ở thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời chị N làm văn bản uỷ quyền cho anh Q toàn quyền sử dụng xe ô tô trên có chứng thực của Văn phòng C1.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 40/CT-VKS-P1 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Dương Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Phạt tiền bị cáo Dương Văn H từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 326.400.000 đồng là phương tiện dùng vào việc phạm tội và số tiền 13.150.684 đồng là tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; trả lại cho Dương Văn H 60.449.316 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01

chiếc bút bi màu đen; tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S sử dụng vào việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Dương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo khai nhận:

Ngày 15/01/2024, tại quán P ở số H, đường N, tổ dân phố M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Dương Văn H có hành vi cho anh Hà Văn Q vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1triệu/1ngày (tương đương 109,5%/năm), cắt lãi trước 2 tháng (từ ngày 16/01/2024 đến ngày 14/3/2024) là 72.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 13.150.684 đồng, số tiền thu lời bất chính là 58.849.316 đồng.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi Dương Văn H cho anh Hà Văn Q vay với lãi suất tương đương 109,5%/năm, thu lời bất chính 58.849.316 đồng đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”...

[4] Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh và trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi cho vay

lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không mang tính chất chuyên nghiệp, số tiền thu lợi bất chính không lớn nên cần xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục cũng như răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng và những người liên quan trong vụ án:

  • - Đối với số tiền 328.000.000₫ anh Q tự nguyện giao nộp ngày 15/01/2024. Trong đó 326.400.000đ là tiền H chuyển cho anh Q vay, 1.600.000 đồng là tiền anh Q và H thỏa thuận trả tiền công chứng hợp đồng mua bán xe ô tô. Ngày 22/01/2024 Dương Văn H đã trả cho anh Q số tiền 1.600.000 đồng, do vậy cần trả lại cho Dương Văn H số tiền 1.600.000 đồng trong số tiền 328.000.000 đồng anh Q đã giao nộp cho cơ quan điều tra nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án, số tiền còn lại 326.400.000 đồng là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 72.000.000 đồng Dương Văn H tự nguyện nộp ngày 01/3/2024 là tiền Dương Văn H cắt lãi trước 2 tháng, trong đó tiền lãi cao nhất theo quy định của BLDS là 13.150.684 đồng cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, tiền thu lời bất chính là 58.849.316 đồng cần trả lại cho người đi vay là anh Q, tuy nhiên anh Q chưa trả tiền lãi cho Dương Văn H nên cần trả lại số tiền 58.849.316 đồng cho Dương Văn H nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với 01 chiếc bút bi màu đen là phương tiện anh Q sử dụng để viết giấy bán xe khi H cho anh Q vay lãi nặng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại Iphone 6S của Dương Văn H là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 Đăng ký xe ô tô BKS: 88A-552.30 mang tên Đặng Quốc T2, 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO, BKS: 88A-552.30; 02 bản gốc hợp đồng mua bán xe giữa anh Q và anh T2, 04 hợp đồng uỷ quyền giữa chị N và anh Q. Quá trình điều tra xác định anh Hà Văn Q mua chiếc xe ô tô trên của anh Đặng Quốc T2; chị Hoàng Thị N làm hợp đồng ủy quyền cho anh T2 (chồng chị N) quản lý, sử dụng và định đoạt xe ô tô. Ngày 25/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 Đăng

ký xe ô tô BKS: 88A-552.30 mang tên Đặng Quốc T2; 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO, BKS: 88A-552.30, 02 bản hợp đồng mua bán xe giữa anh Q và anh T2 và 04 hợp đồng uỷ quyền giữa chị N và anh Q cho anh Hà Văn Q là phù hợp.

Đối với anh Hà Phi H2, quá trình điều tra xác định anh H2 chỉ là người anh Q nhờ giới thiệu để anh Q vay tiền của Dương Văn H, anh Q không giúp gì cho H trong việc cho vay lãi nặng, do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt bị cáo Dương Văn H 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 326.400.000₫ là phương tiện dùng vào việc phạm tội và số tiền 13.150.684 đồng là tiền lãi theo quy định của pháp luật; tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S được sử dụng vào việc phạm tội; trả lại cho Dương Văn H 60.449.316 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu đen.

Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 10 tháng 4 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà hình sự, HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn H phạm tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger