Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN HỒ

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST.

Ngày: 10-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Huấn và bà Trần Thị Thu Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Cầm Việt Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST- ST ngày 05 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lầu A; tên gọi khác, không, sinh năm 1975, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Trú tại: Bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; Đảng phái, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Lầu A S và bà Vàng Thị S1 (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Sồng Thị Vô sinh năm: 1977 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 16/01/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 27/12/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 27/12/2023 Tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại địa phận bản Pa Cốp, xã V, huyện V yêu cầu Lầu A dừng lại để kiểm tra. Lầu A T khai vừa nuốt gói ma túy vào trong bụng gồm 01 gói nilon màu xanh bê trong đựng 03 gói Heroine và 02 viên hồng phiến. Căn cứ vào lời khai của Lầu A T1, Tổ công tác đã đưa T1 đến Bệnh viện Đ tiến hành nội soi không gây mê để lấy gói ma túy ra khỏi dạ dày của T1. Kết quả lấy được 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 03 gói, trong đó có 02 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu tráng, bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là H1 và 02 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine. Đồng thời lập biên bản niêm phong vật cứng, dẫn giải Lầu A Thông về Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, làm rõ.

Ngày 27/12/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân H2 và Phòng K Công an tỉnh S đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Lầu A như sau:

- 02 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine có khối lượng 0,17 gam. Lấy 0,10 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T2 Vật chứng còn lại có khối lượng 0,07 gam ký hiệu T1 lưu kho vật chứng.

- Chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất được 0,08 gam. Lấy toàn bộ 0,08 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T2.

- Chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ hai được 0,05 gam. Lấy toàn bộ 0,05 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T3.

- Chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng được 0,08 gam. Lấy toàn bộ 0,08 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T4.

Các mẫu T, T2, T3, T4 được bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số 197 ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam. Mẫu ký hiệu. T2, T3, T4 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D; Khối lượng của mẫu gửi giám định là T2 = 0, 8 gam, T3 = 0,05 gam, T4 = 0, 8 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,17 gam; loại Methamphetamine và 0,21 gam loại Heroine (H), có tên khoa học là D. H3 lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lầu A T1 khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/12/2023 Lầu A T1 đi bộ một mình từ nhà ở đến đỉnh dốc Pa Cốp thuộc bản P, xã V, huyện V mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi T1 gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi, không biết tên địa chỉ, qua trao đổi T1 hỏi và mua được của người phụ nữ đó một gói nilon màu trắng bên trong đựng 02 viên hồng phiến và một cục H5 với giá 100.000 đồng. Sau khi nhận ma túy T1 chia Heroine thành ba phần rồi nhặt mảnh nilon màu xanh và mảnh nilon màu trắng ven đường gói thành 02 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu trắng, sau đó T1 gói 02 viên hồng phiến và 03 gói Heroine chung bằng mảnh nilon màu xanh rồi cho vào miệng ngậm và đi bộ về nhà. Khi T1 đi được khoảng 300m thì gặp tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ yêu cầu T1 dừng lại để kiểm tra hành chính về ma túy, quá trình kiểm tra Lầu A T1 khai nhận vừa nuốt vào trong bụng gói ma túy vừa mua được. Tổ công tác đã đưa Lầu A Thông đến Bệnh viện Đ để lấy số ma túy trong dạ dày của T1 ra. Đồng thời lập biên bản niêm phong, dễ giải Lầu A T1 về Cơ quan CSĐT Công an huyện V điều tra.

Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lầu A T1 về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Lầu A T1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lầu A T1 từ 18 đến 24 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 phong bì niên phong bên trong đựng vật chứng còn lại T1= 0,07 gam + vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 phong bì niên phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lầu A T1.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đề nghị miễn án phí HSST đối với bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa: Cơ bản nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX xem xét lượng hình đối với bị cáo cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo 16 tháng đến 17 tháng tù.

Ý kiến của Bị cáo: Nhất trí như lời bào chữa, không bổ sung, cũng không tranh luận đối đáp gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về căn cứ xác định có tội: Ngày 27/12/2023, Lầu A T1 bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,17 gam Methamphetamine và 0,21 gam Heroine, tổng khối lượng ma túy tàng trữ là 0,38 gam. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ. Như vậy đã có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã cố tình phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,38 gam gồm M và H4, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét đề nghị của luật sư bào chữa: HĐXX nhận thấy đề nghị của Luật sư bào chữa về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt bổ sung, án phí và xử lý vật chứng là có căn cứ, nên được HĐXX chấp nhận. Đối với đề nghị về mức hình phạt từ 16 tháng đến 17 tháng tù đối với bị cáo là chưa đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, chưa xét đến nhân thân của bị cáo, nên không được HĐXX chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[6] Vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niên phong bên trong đựng vật chứng còn lại T1=0,07 gam + vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lầu A T1 là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo mua của một người phụ nữ dân tộc mông khoảng 60 tuổi, bị cáo không quen biết, ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào để điều tra xử lý người bán ma túy cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin HĐXX miễn án phí cho bị cáo. HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lầu A T1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Lầu A T1 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 phong bì niên phong bên trong đựng vật chứng còn lại T1=0,07 gam + vỏ gói niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 phong bì niên phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lầu A T1.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng số 45/BBVC-CCTHA ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND huyện (02 bản);
  • - Công an;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger