Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 8 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm 2000, tại Đồng Nai

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H và bà Phạm Thị K; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1982. Luật sư Đoàn Luật sư Thành Phố H. Địa chỉ: Chi nhánh Công ty L, số C, đường C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn Quang H1, sinh năm 1995; nơi thường trú: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
  • - Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1967; nơi thường trú: Số F P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

Huỳnh Chí D, sinh năm 1999; nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/01/2024, Nguyễn Minh T vào những hội nhóm kín trên mạng xã hội Facebook để hỏi mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời. T hỏi mua được 04 hộp pháo hoa nổ với giá 1.050.000 đồng/01 hộp, tổng cộng 04 hộp với giá 4.200.000 đồng của một tài khoản Facebook Tâm không nhớ rõ thông tin. Sau khi nhận được pháo, Nguyễn Minh T dùng tài khoản Facebook “Nguyễn Minh T” đăng bán số pháo trên.

Ngày 02/01/2024, có người sử dụng tài khoản Facebook có tên “Anh V” nhắn tin vào tài khoản Facebook Messenger của T tên “Nguyễn Minh T” để hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ. Sau khi nói chuyện thương lượng T đồng ý bán 04 hộp pháo hoa nổ với giá 1.300.000 đồng/01 hộp, tổng cộng 14 hộp là 5.200.000 đồng cho người sử dụng tài khoản Facebook “Anh Văn” và hẹn chiều ngày 03/01/2024 sẽ giao nhận số pháo hoa trên tại khu vực Ngã ba C thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Khoảng 14 giờ ngày 03/01/2024, Nguyễn Minh T mượn xe mô tô biển số 53V9 - 6577 của Nguyễn Văn Quang H1 (chú họ của Nguyễn Minh T) rồi điều khiển xe mô tô chở theo 04 hộp pháo hoa được đựng trong 01 thùng C đi từ huyện X, tỉnh Đồng Nai đến xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Minh T đến khu vực Miệu Đ thuộc xã Đ, huyện Đ và sử dụng tài khoản Facebook messenger “Nguyễn Minh T” liên lạc cho người mua pháo dùng tài khoản facebook messenger “Anh V” nhưng không được, sau đó bị lực lượng Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện bắt giữ Nguyễn Minh T cùng 04 khối hình hộp có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, tất cả có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên ngoài hộp có ký hiệu KS4 – 4911N BILLION TIME.

Tại Kết luận giám định số 52/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh B kết luận:

04 khối hình hộp có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, tất cả đều có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên ngoài có ký hiệu KS4-4911 N BILLION TIME gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 6,1kg.

Vật chứng:

  • - 04 khối hình hộp còn lại 190 ống, có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên trên có ký hiệu KS4-4911 N BILLION TIME, được niêm phong trong 01 thùng giấy có kích thước (36 x 45 x 23)cm, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh T và chữ ký của Giám định viên Trần Quốc V1, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 thùng carton kích thước (29 x 25 x 20)cm.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 53V9 – 6577, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng bị bể mặt lưng kính quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS-HS ngày 28/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Nguyễn Minh T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng, không oan.

Trong phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội

phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 04 khối hình hộp còn lại 190 ống, có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên trên có ký hiệu KS4-4911 N BILLION TIME, được niêm phong trong 01 thùng giấy có kích thước (36 x 45 x 23)cm, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh T và chữ ký của Giám định viên Trần Quốc V1, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 thùng carton kích thước (29 x 25 x 20)cm.

Bị cáo Nguyễn Minh T: Không có tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt để giảm nhẹ cho bị cáo. Ngoài ra không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Kiểm sát viên tranh luận: Tội phạm mà bị cáo Nguyễn Minh T thực hiện đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nên việc đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không phù hợp, không có căn cứ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Quang H1: Không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T1 và người chứng kiến không có lý do, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, người chứng kiến theo quy định tại Điều 292, 296 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi và tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xác định hiện trường, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 01/01/2024, thông qua mạng xã hội Nguyễn Minh T đặt mua 04 hộp pháo hoa nổ với giá 4.200.000 đồng để bán kiếm lời. Nguyễn Minh T sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Minh T” đăng bán số pháo trên.

Ngày 02/01/2024, tài khoản Facebook có tên “Anh V” nhắn tin vào tài khoản Facebook Messenger “Nguyễn Minh T” của T để hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ. Sau khi thoả thuận T đồng ý bán 04 hộp pháo hoa nổ với số tiền 1.300.000 đồng/01 hộp, tổng cộng là 5.200.000 đồng và hẹn chiều ngày 03/01/2024 sẽ giao nhận số pháo hoa trên tại khu vực Ngã ba C thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Khoảng 14 giờ ngày 03/01/2024, Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô biển số 53V9 - 6577 chở theo 04 hộp pháo hoa nổ có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên ngoài hộp có ký hiệu KS4-4911N BILLION TIME, đựng trong thùng Catton có khối lượng 6,1kg đi từ huyện X, tỉnh Đồng Nai đến xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để giao thì bị bắt giữ, đây là hàng cấm buôn bán, cho nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi buôn bán 6,1 kg pháo nổ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm tàng trữ, cấm sử dụng, cấm buôn bán, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiềm ẩn nhiều rủi ro, cháy nổ, gây ô nhiễm, lãng phí. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và việc buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên cần xem xét hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo trong quá trình sinh sống tại địa phương trong giai đoạn dịch Covid-19 có nhiều hoạt động thiện nguyện và đóng góp cho hoạt động của Đoàn thanh nên xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai được ghi nhận. Nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về việc người bào chữa đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, tình tiết “Chưa gây thiệt hại” hoặc “Gây thiệt hại không lớn” là hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đều nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội. “Chưa gây thiệt hại” là trường hợp hậu quả vật chất do hành vi phạm tội chưa xảy ra trên thực tế còn “Gây thiệt hại không lớn” là trường hợp đã có thiệt hại xảy ra nhưng thiệt hại đó không lớn hơn so với mức bình thường (cả thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất). Trong khi hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý về sản xuất, buôn bán hàng cấm, ảnh hướng đến

hoạt động sản xuất kinh doanh đối với hàng hoá mà Nhà nước quản lý, nên không có căn cứ để áp dụng.

[4] Về hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo hiện không có nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

[6] Về vật chứng: Đối với 04 khối hình hộp còn lại 190 ống, có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên trên có ký hiệu KS4-4911 N BILLION TIME, được niêm phong trong 01 thùng giấy có kích thước (36 x 45 x 23)cm, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh T và chữ ký của Giám định viên Trần Quốc V1, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B là vật cấm buôn bán, cấm tàng trữ, lưu hành và 01 thùng carton kích thước (29 x 25 x 20)cm là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các vật chứng khác đã được cơ quan cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra, nên không xem xét.

[7] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Anh V” liên hệ với Nguyễn Minh T để mua 04 hộp pháo hoa nổ, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, cần tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cử xử lý theo quy định.

[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Minh T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định

tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 190 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 65 điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điểm a khoản 2 Điều 106 khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 các Điều 292, 296, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1. Tuyên bố: Nguyễn Minh T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Phạt: Nguyễn Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/7/2024).

Giao Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 04 khối hình hộp còn lại 190 ống, có kích thước (26 x 26 x 19,5)cm, bên trên có ký hiệu KS4-4911 N BILLION TIME, được niêm phong trong 01 thùng giấy có kích thước (36 x 45 x 23)cm, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh T và chữ ký của Giám định viên Trần Quốc V1, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 thùng carton kích thước (29 x 25 x 20)cm.

(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/6/2024).

3. Về án phí: Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh;
  • - CQTHAHS - Công an huyện Đức Linh;
  • - Sở Tư pháp Bình thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh (khi có hiệu lực);
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc (Thay T/b);
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Tâm-Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger