|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST. Ngày: 08 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm;
Ông Đặng Thiện Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 08/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST- HS ngày 23/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/HSST-QĐ ngày 15/4/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị T, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1966; tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ;
Nơi cư trú: Thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố Q, thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ở trước khi bị bắt: Thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do;
Đảng, đoàn thể: Không; Trình độ văn hóa: 10/10;
Con ông Trần Văn C (Đã chết);
Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1943;
Gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ hai;
Chồng: Nguyễn Đức Ư, sinh năm 1961;
Bị cáo có 02 con riêng, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1989;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giam từ ngày 15/7/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B ( Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị T: Bà Ong Thị T1 và Ngô Thị T2 đều là Luật sư - Văn phòng Luật sư Vũ Anh H- thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (Luật sư T1 có mặt, Luật sư T2 vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường L, phường H, thành phố B.
2. Họ và tên: Nguyễn Đức Ư, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1961; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố Q, thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ở trước khi bị bắt: Thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do;
Đảng, đoàn thể: Không; Trình độ văn hóa: 10/10;
Con ông Nguyễn Đức G (Đã chết);
Con bà Nguyễn Thị O (Đã chết);
Gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ nhất;
Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1966;
Bị cáo không có con (Có 02 con riêng của vợ);
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giam từ ngày 15/7/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B ( Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Ư: Ông Hà Đình T3, Luật sư Công ty L - thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt khi xét hỏi, vắng mặt khi tranh luận và tuyên án).
Địa chỉ: TDP L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1952 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, ngõ A, đường X, tổ B, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1957 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
3. Ông Hướng Xuân H1, sinh năm 1962 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 163, đường Hoàng Văn Thụ, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
4. Anh Lê Văn H2, sinh năm 1980 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
5. Bà Trần Thị G1, sinh năm 1964 ( Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
6. Bà Tạ Thị H3, sinh năm 1952 ( Hiện không có mặt tại địa phương).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
7. Ông Nguyễn Văn S ( Ông S chết ngày 20/02/2015).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn S:
- Bà Lương Thị H4, sinh năm 1960 - Là vợ ( Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ I đường L, tổ dân phố D, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1976 - Là con.
- Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1979 - Là con.
- Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1984 - Là con.
- Chị Nguyễn Hồng N3, sinh năm 1998 - Là con.
( Anh T4, anh T5, anh T6, chị N3 đều ủy quyền cho bà Lương Thị H4 - Là mẹ đẻ, tham gia tố tụng).
Đều địa chỉ: T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Thân Thị H5, sinh năm 1959 ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, ngõ A đường T, phường L, thành phố B.
2. Ông Vi Thế C1 ( Ông C1 chết ngày 01/8/2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Vi Thế C1:
- Bà Nông Thị H6, sinh năm 1953 - Là vợ ( Vắng mặt).
- Chị Vi Thị D, sinh năm 1973 - Là con.
- Anh Vi Văn Ứ, sinh năm 1975 - Là con.
- Anh Vi Văn D1, sinh năm 1983 - Là con.
- Anh Vi Thanh D2, sinh năm 1984 - Là con.
( Chị D, anh Ứ, anh D1, anh D2 đều ủy quyền cho bà Nông Thị H6 - Là mẹ đẻ, tham gia tố tụng).
Đều địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2002 đến đầu năm 2003, Trần Thị T, sinh năm 1966 cùng với chồng là Nguyễn Đức Ư, sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố Q, thị trấn T), huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhiều lần vay tiền của Công ty V và một số cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang để kinh doanh và trả nợ, trong đó có một số khoản vay do một mình Trần Thị T trực tiếp vay. Sau khi vay được tiền, do làm ăn kinh doanh bị thua lỗ, không còn khả năng thanh toán, trả lại số tiền đã vay nên Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đã bỏ trốn để chiếm đoạt. Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư như sau:
1. Hành vi vay và chiếm đoạt tiền của Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư
1.1. Vay và chiếm đoạt của Công ty V (Công ty):
Năm 2002, 2003 Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T vay của Công ty theo 04 hợp đồng với tổng số tiền 352 triệu đồng, đã trả được 82 triệu đồng, còn nợ 270 triệu đồng, cụ thể:
- Hợp đồng cầm đồ số 131 ngày 10/6/2002: Tài sản cầm đồ là xe mô tô DreamII BKS 98F5-8766 và xe mô tô Future BKS 98H2-2717 có tổng trị giá 45.00.000 đồng; số tiền vay 42.000.000 đồng; thời hạn cầm đồ đến ngày 10/12/2002; đã trả tiền gốc 22.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày 30/4/2003; còn nợ tiền gốc là 20.000.000 đồng.
- Hợp đồng cầm đồ số 132 ngày 10/6/2002: Tài sản cầm đồ là Vô tuyến nhãn hiệu SONY (TOSIPA) liên doanh trị giá 6.000.000 đồng; số tiền vay là 5.000.000 đồng; thời hạn cầm đồ đến 10/12/2002; đã trả tiền lãi đến 30/4/2003; còn nợ tiền gốc 5.000.000 đồng.
- Hợp đồng cầm đồ số 209 ngày 28/8/2002: Tài sản cầm đồ là xe ô tô du lịch 4 chỗ nhãn hiệu DAEWOO màu sơn xanh biển kiểm soát 98K-2898 trị giá 260.000.000 đồng; số tiền vay 150.000.000 đồng; thời hạn cầm đồ đến ngày 28/11/2002. Sau đó, đã vay tiền nhiều lần, tổng số tiền vay là 280.000.000 đồng; đã trả nợ tiền gốc 60.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày 30/4/2003; còn nợ tiền gốc 220.000.000 đồng.
- Hợp đồng cầm đồ không ghi số ngày 30/01/2003: Tài sản cầm đồ là xe mô tô Attila biển kiểm soát 98H7-1628 trị giá 29.000.000 đồng, số tiền vay là 25.000.000 đồng, thời hạn cầm đồ là 30 ngày; đã trả lãi được tháng 02, 3, 4 năm 2003; chưa trả tiền gốc số tiền 25.000.000 đồng.
Toàn bộ tài sản cầm đồ trong các hợp đồng nêu trên đều được bà Thân Thị H5, sinh năm 1959, trú tại Số D, ngõ A đường T, phường L, thành phố B là Quyền Trưởng phòng kế toán Công ty ký bảo lãnh và ông Vi Thế C1, sinh năm 1954, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (đã chết) là Giám đốc Công ty đồng ý cho Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư mượn lại tài sản cầm đồ để sử dụng ngay tại thời điểm vay.
Ngày 12/5/2003, Công ty nhận được thông tin Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 13/5/2003, Công ty tiến hành họp bàn biện pháp xử lý thu hồi nợ đối với các khoản cho Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư vay cầm đồ nêu trên, trong đó xác định trách nhiệm thuộc về ông Vi Thế C1 và bà Thân Thị H5. Các thành viên trong cuộc họp thống nhất thanh toán dứt điểm các món vay trên, ông C1 phải nộp số tiền 100.000.000 đồng, bà H5 phải nộp số tiền 170.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi. Ngày 20/5/2003, ông C1 và bà H5 đã nộp cho Công ty đủ số tiền do Ư và T chiếm đoạt.
Cùng ngày 20/5/2003, Công ty đã làm các thủ tục tất toán khoản vay. Ngày 23/7/2003, Công ty S3 vào Ngân hàng N5 chi nhánh thành phố B (nay thuộc Ngân hàng N6 chi nhánh B). Quá trình nhận sáp nhập, Ngân hàng N5 chi nhánh thành phố B không tiếp nhận khoản vay nào liên quan đến Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư. Ngày 27/12/2023, Ngân hàng N6 chi nhánh B có văn bản xác định khoản nợ của Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đã được hạch toán trả hết nợ trước khi Công ty sáp nhập nên Ngân hàng không có ý kiến gì và xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng, điều tra, xét xử vụ án.
Bà Thân Thị H5 và bà Nông Thị H6, sinh năm 1953, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là vợ của ông Vi Thế C1 đồng thời là người được các con của ông Vi Thế C1 ủy quyền) đề nghị Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư có trách nhiệm phải trả cho bà Thân Thị H5 số tiền 170.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi; trả cho bà Nông Thị H6 số tiền 100.000.000 đồng và lãi phát sinh từ năm 2003.
Đối với các tài sản cầm cố để vay tiền và mượn lại để sử dụng trong các hợp đồng nêu trên, trong quá trình sử dụng, trước khi bỏ trốn, vợ chồng T, Ư đã: (1) bán các xe mô tô BKS 98F5-8766, 98H2-2717 và 98H-1628 cho người khác nhưng không nhớ là ai; (2) chiếc ti vi đã cũ, hỏng không nhớ để ở đâu; (3) xe ô tô BKS 98K-2898, ngày 05/5/2003 Nguyễn Đức Ư đã giao cho ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957, trú tại Tổ dân phố K, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang cùng với số chứng nhận kiểm định của xe để quản lý nhằm khất nợ số tiền 296.000.000 đồng do vợ chồng T, Ư vay trước đó. Quá trình giao xe ô tô ông Nguyễn Văn S có làm giấy biên nhận để Nguyễn Đức Ư ký xác nhận. Ngày 14/5/2003 ông Nguyễn Văn S giao nộp chiếc xe ô tô BKS 98K-2898 cùng số chứng nhận kiểm định số A0393115 và bản sao giấy biên nhận do Nguyễn Đức Ư ký xác nhận nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Do chiếc xe ô tô này là tài sản cầm cố và được ông Vi Thế C1 bỏ tiền cá nhân ra để trả cho khoản vay của vợ chồng T, Ư, nên ngày 10/6/2003, Cơ quan điều tra giao chiếc xe ô tô BKS 98K-2898 cho ông Vi Thế C1 quản lý. Ngày 01/8/2022, ông Vi Thế C1 chết nên Cơ quan điều tra không xác định được chiếc xe ô tô này hiện đang ở đâu, do ai quản lý và vợ chồng T, Ư cũng không có ý kiến, đề nghị gì về chiếc xe ô tô này.
1.2. Vay và chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị N1, sinh ngày 21/12/1952, trú tại số C, ngõ A, đường X, tổ B, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Do có mối quan hệ quen biết với con gái của bà N1 là Trần Thị M, năm 2002, Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đã hỏi vay tiền bà N1. Bà N1 đã cho vay số tiền là 70.000.000 đồng. Sau đó, vợ chồng T, Ư đã trả số tiền trên cho bà N1. Đến đầu năm 2003, Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư tiếp tục đến nhà bà N1 hỏi vay tiền và được bà N1 cho vay số tiền 117.000.000 đồng. Do thấy vợ chồng T, Ư đi xe ô tô đến nên bà N1 yêu cầu vợ chồng T, Ư phải để lại giấy đăng ký xe làm tin. Khi đó, Trần Thị T đã viết giấy thỏa thuận vay tiền và ký gửi bà N1 giấy đăng ký xe ô tô số A0003455 của xe ô tô nhãn hiệu Daewoo biển số 98K-2898 mang tên chủ phương tiện là Nguyễn Đức Ư (giấy thỏa thuận ghi ngày 10/01/2003 âm lịch).
Ngày 30/9/2003, bà N1 đã giao nộp giấy đăng ký xe ô tô số A0003455 và bản sao giấy thỏa thuận vay tiền nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Đối với tờ giấy biên nhận thỏa thuận vay tiền bản gốc, hiện nay bà N1 không còn lưu trữ. Bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu, đề nghị vợ chồng T, Ư phải trả số tiền 117.000.000 đồng.
1.3. Vay và chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957, trú tại Tổ dân phố K, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nguyễn Đức Ư là bạn học của vợ ông Nguyễn Văn S. Khoảng cuối năm 2002, ông S nhiều lần cho vợ chồng T, Ư vay tiền với tổng số tiền 296.000.000 đồng, khi vay không viết và ký xác nhận giấy tờ gì. Tuy nhiên, do thấy thấy vợ chồng T, Ư không trả tiền theo thỏa thuận nên ngày 05/5/2003, ông S đã yêu cầu Nguyễn Đức Ư phải giao lại xe ô tô biển số 98K-2898 để ông S tạm thời quản lý. Nguyễn Đức Ư đã đồng ý yêu cầu của ông S. Khi đó, ông S có viết giấy biên nhận khất nợ để Nguyễn Đức Ư ký xác nhận thể hiện việc T, Ư còn nợ số tiền 296.000.000 đồng và giao cho ông S xe ô tô trên cùng số chứng nhận kiểm định số A0393115, hẹn đến ngày 07/5/2003 trả hết số tiền trên.
Ngày 20/02/2015, ông Nguyễn Văn S chết. Ngày 01/8/2023, bà Lương Thị H4, sinh năm 1960, trú tại Số nhà A, ngõ I đường L, tổ dân phố D, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang là vợ của ông Nguyễn Văn S cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B bản gốc giấy biên nhận khất nợ nêu trên. Bà Lương Thị H4 yêu cầu, đề nghị vợ chồng T, Ư phải trả số tiền đã vay là 296.000.000 đồng.
1.4. Vay và chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1957, trú tại: Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, Bắc Giang.
Ông Nguyễn Văn N2 có họ hàng xa và là hàng xóm, thường xuyên qua lại nhà T, Ư. Khoảng từ tháng 10/2002 đến tháng 4/2003, ông N2 có cho vợ chồng T, Ư vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 261.000.000 đồng. Quá trình vay tiền, hai bên không lập giấy tờ và ký xác nhận gì. Ông Nguyễn Văn N2 yêu cầu, đề nghị vợ chồng T, Ư phải trả lại số tiền đã vay là 261.000.000 đồng.
1.5. Vay và chiếm đoạt tiền của của ông Hướng Xuân H1, sinh năm 1962, trú tại: Số A, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Ông Hướng Xuân H1 là anh họ của Nguyễn Đức Ư. Khoảng cuối tháng 02/2003 âm lịch, vợ chồng T, Ư có xuống nhà ông H1 hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng để kinh doanh gạo. Ban đầu ông H1 chưa cho vay. Đến ngày hôm sau, vợ chồng T, Ư xuống nhà ông H1, ông H1 đã cho vay 90.000.000 đồng. Một tuần sau, Trần Thị T mang 100.000.000 đồng xuống nhà ông H1 nói là đủ trả nợ nhưng cần vay thêm 50.000.000 đồng để mua lô hàng mới, ông H1 đã đồng ý cho vay thêm 50.000.000 đồng và viết giấy biên nhận tổng vay 140.000.000 đồng. Ngày 01/3/2003 âm lịch, vợ chồng T, Ư xuống nhà ông H1 vay thêm 140.000.000 đồng; Trần Thị T đã viết lại giấy biên nhận vay tổng 3 lần là 280 triệu đồng. Ngày 29/3/2003 âm lịch, vợ chồng T, Ư xuống nhà ông H1 vay thêm 100.000.000 đồng, T đã viết tiếp vào tờ giấy biên biên nhận ngày hôm trước (ngày 01/3/2003 âm lịch) thể hiện nội dung vay thêm 100.000.000 đồng. Tổng số tiền ông H1 cho vợ chồng T, Ư vay là 380.000.000 đồng.
Đối với giấy biên nhận vay tiền nêu trên, ngày 31/7/2023, ông Hướng Xuân H1 đã cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Ông Hướng Xuân H1 yêu cầu, đề nghị vợ chồng Thái U1 phải trả số tiền đã vay là 380.000.000 đồng.
1.6. Vay và chiếm đoạt tiền của của anh Lê Văn H2, sinh năm 1980, trú tại: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Anh Lê Văn H2 học lái xe ô tô cùng với Nguyễn Đức Ư, sau đó được Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T nhận là con nuôi. Đầu năm 2003, anh H2 đã cho Trần Thị T vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 91.000.000 đồng. Quá trình vay tiền, hai bên không lập giấy tờ và ký xác nhận gì. Anh Lê Văn H2 yêu cầu, đề nghị nếu Trần Thị T có tiền thì trả lại số tiền đã vay là 91.000.000 đồng.
1.7. Vay và chiếm đoạt tiền của bà Tạ Thị H3, sinh năm 1952, trú tại: thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Năm 2001, 2002, bà H3 làm việc tại Bưu điện T7, huyện Y nên có quen biết với vợ chồng T, Ư. Bà H3 đã cho Trần Thị T vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 80.000.000 đồng. Đến ngày 01/10/2002, hai bên đã thống nhất lập một giấy biên nhận với nội dung thể hiện Trần Thị T vay của bà H3 tổng số tiền là 80.000.000 đồng.
Quá trình xác minh xác định bà Tạ Thị H3 có bố đẻ, mẹ đẻ và chồng đã chết, không có con, chỉ có em ruột là Tạ Thị H7, sinh năm 1953, trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bà H3 hiện không cư trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bà H7 cho biết, bà H3 đã đi tu tại Chùa T8, địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để xác minh, ghi lời khai bà H3. Kết quả xác định trước đây bà H3 có tu tại Chùa T8 với pháp danh Thích Nữ Quảng M1. Tuy nhiên, hiện nay bà H3 không còn tu tại Chùa T8, bà H3 đi đâu nhà Chùa không biết và không ai biết bà H3 đang ở đâu nên không xác định được đề nghị của bà H3 cụ thể như thế nào.
1.8. Vay và chiếm đoạt tiền của bà Trần Thị G1, sinh năm 1964, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Do có mối quan hệ quen biết là người cùng xã, khoảng năm 2002, 2003, bà G1 cho Trần Thị T vay tiền nhiều lần. Khi vay thì Trần Thị T có ký xác nhận vào sổ của bà G1. Sau khi trả xong thì xóa nợ, rồi lại cho vay tiếp. Số tiền Trần Thị T còn nợ là 54.000.000 đồng (gồm 46.000.000 đồng tiền mặt và 01 cây vàng quy ra tiền mặt tại thời điểm vay là 8.000.000 đồng). Đối với giấy tờ gốc thể hiện T ký xác nhận nợ, bà G1 không còn lưu trữ. Bà Trần Thị G1 yêu cầu, đề nghị Trần Thị T phải trả số tiền đã vay còn lại là 54.000.000 đồng.
Ngày 15/7/2023, Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư bị bắt truy nã. Quá trình điều tra, T và Ư đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi cũng như số tiền đã vay, số tiền còn nợ của Công ty V và các cá nhân như nêu ở trên. Tổng số tiền Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư cùng đứng ra vay chưa trả và bỏ trốn được xác định là 1.324.000.000 đồng, bao gồm: khoản vay của Công ty V số tiền 270.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn S số tiền 296.000.000 đồng, ông Hướng Xuân H1 số tiền 380.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn N2 số tiền 261.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N1 số tiền 117.000.000 đồng. Trần Thị T đã trực tiếp vay số tiền 225.000.000 đồng bao gồm khoản vay của anh Lê Văn H2 số tiền 91.000.000 đồng, bà Tạ Thị H3 số tiền 80.000.000 đồng, bà Trần Thị G1 số tiền 54.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T xác định đã sử dụng số tiền nêu trên để kinh doanh gạo và trả nợ số tiền vay của người khác trước đó; đến ngày 10/5/2003 do xác định số tiền đầu tư kinh doanh bị thua lỗ, không thể đòi, lấy lại được khoản tiền đã đầu tư và không còn khả năng thanh toán cho các khoản đã vay nên đã bỏ trốn. Ban đầu trốn vào tỉnh Cà Mau sau đó đến tỉnh Lào Cai và từ năm 2010 đến khi bị bắt cư trú tại thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Trong thời gian bỏ trốn Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đều chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, không vi phạm gì và cũng không bị xử lý gì. Đến nay, Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư chưa nộp, khắc phục hậu quả.
2. Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 28/8/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Giám định viên Phòng K Công an tỉnh B giám định chữ viết, chữ ký trên tờ giấy biên nhận vay tiền do ông Hướng Xuân H1 giao nộp ngày 31/7/2023 và tờ giấy biên nhận khất nợ do bà Lương Thị H4 giao nộp ngày 01/8/2023. Tại Kết luận giám định số 1680/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết trên tài liệu do ông Hướng Xuân H1 giao nộp là do Trần Thị T viết ra; Phòng K không kết luận giám định chữ ký dưới mục người thế chấp so với chữ ký của Nguyễn Đức Ư do thời điểm viết cách xa nhau, chữ ký cần giám định và chữ ký mẫu có đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được.
3. Về thu giữ tài sản, đồ vật:
Ngày 19/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T tại thôn H, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái đã thu giữ tài sản, đồ vật sau: 01 tủ cấp đông, màu trắng, nhãn hiệu SANAKY đã qua sử dụng, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đen biển số 21F1-4919 đã qua sử dụng (kèm theo chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 21007001 mang tên chủ xe là Nguyễn Thị H8, địa chỉ thôn D, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Magic màu đỏ biển số 98L8-1126 đã qua sử dụng (kèm theo đăng mô tô, xe máy số 0152387 mang tên chủ xe là Trần Văn S1, địa chỉ thôn A, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang).
Toàn bộ tài sản thu giữ nêu trên, quá trình điều tra xác định đều là tài sản của Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đã mua lại của người khác, Cơ quan điều tra chuyển để giải quyết cùng vụ án.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-P3 ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt Trần Thị T từ 13 năm 6 tháng đến 14 năm 6 tháng; xử phạt Nguyễn Đức Ư từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm 6 tháng; cùng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt truy nã 15/7/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về trách nhiệm dân: Áp dụng Điều 584, Điều 587 Bộ luật dân sự:
- Buộc bị cáo Trần Thị T liên đới cùng Nguyễn Đức U phải trả cho: bà Nguyễn Thị N1 số tiền 117.000.000 đồng; bà Lương Thị H4 số tiền 296.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn N2 số tiền 261.000.000 đồng; ông Hướng Xuân H1 số tiền 380.000.000 đồng; bà Thân Thị H5 số tiền 170.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi; bà Nông Thị H6 số tiền 100.000.000 đồng.
- Buộc và Trần Thị T phải trả cho: ông Lê Văn H2 số tiền 91.000.000 đồng; bà Tạ Thị H3 số tiền 80.000.000 đồng và bà Trần Thị G1 số tiền 54.000.000 đồng.
Cụ thể, Trần Thị T phải trả tổng số tiền là 888.050.000 đồng; Nguyễn Đức Ư phải trả tổng số tiền là 663.050.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự:
Trả lại vợ chồng Trần Thị T, Nguyễn Đức Ư: 01 tủ cấp đông, màu trắng, nhãn hiệu SANAKY đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, biển số 21F1-4914; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, mang tên chủ xe là Nguyễn Thị H8, biển số 21F1-4914; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Magic màu đỏ biển số 98L8-1126; 01 (một) giấy chứng nhận đăng mô tô, mang tên chủ xe là Trần Văn S1, biển số 98L8-1126. Nhưng tạm giữ để đảo bảo thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 38.641.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Đức Ư được miến án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thị T không tự bào chữa và tranh luận, đối đáp gì.
Luật sư Ong Thị T1 trình bày Luận cứ bào chữa cho bị cáo Trần Thị T: Về tội danh và Điều luật: Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự, là hoàn toàn phù hợp đối với hành vi của bị cáo. Bởi vì hành vi chiếm đoạt của bị cáo xuất phát từ sự tín nhiệm do làm ăn thu lỗ, dẫn đến thất thoát không có khả năng trả nợ, những người là bị hại trong vụ án, hầu hết là những người thân, bạn bè, những người tín nhiệm trong việc làm ăn đối với bị cáo. Năm 2003, bị cáo có việc kinh doanh là buôn bán gạo, bị cáo cũng trình bày rất rõ là bị cáo có việc huy động vốn để tập trung nhập hàng, để mua gạo từ các tỉnh Thái Bình để có gạo chuyển lên Lạng Sơn xuất khẩu. Khi chuyển hàng về sẽ thanh toán cho những người bị cáo vay tiền. Rất nhiều người tín nhiệm đã cho bị cáo vay để nhập hàng, bị cáo cũng đã trả đầy đủ các lần vay trước đó. Những người bị hại cho vay nhiều lần, chứ không phải một lần. Do người bị hại tin tưởng vào việc làm ăn của bị cáo mới cho vay. Nguyên nhân dẫn đến bị cáo thất thoát nguồn vốn là do rủi ro, bị cáo không mong muốn, khi người nhận hàng của bị cáo bị tai nạn, người đó cũng như lái xe chết, cho nên bị cáo không thu lại được vốn, sau khi không xử lý được, bị cáo đã đi khỏi địa phương để tìm kiếm công việc để có tài sản trả nợ. Do điều kiện sức khoẻ nên bị cáo nên chưa làm được trả tiền cho người bị hại. Bị cáo cũng không biết bị truy nã, khi mà bị bắt bị cáo mới biết bị truy nã về hành vi phạm tội. Từ khi bị bắt và tạm giữ bị cáo đã rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải giúp cơ quan điều tra kết thúc nhanh vụ án. Tại phiên tòa đại diện của bị hại là bà H4 cũng trình bày yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả gây ra cho bà nhưng bà vẫn có lời trình bày xin giảm nhẹ TNHS cho cả hai vợ chồng bị cáo. Về quan điểm của Luật sư cơ bản cũng đồng tình với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Trong trường hợp này, thực ra các bị cáo do nhận thức, do điều kiện khách quan dẫn đến nên các bị cáo đã có hành vi trái pháp luật nên đề nghị HĐXX xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo T ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Về trách nhiệm dân sự trong trường hợp này, hai bị cáo là vợ chồng có trách nhiệm liên đới trả.
Bị cáo Trần Thị T đồng ý với Luận cứ bào chữa của Luật sư, không tranh luận gì thêm.
Bị cáo Nguyễn Đức Ư không tự bào chữa và tranh luận gì.
Luật sư Hà Đình T3 vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố bản Luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Ư: Bị cáo Ư là chồng bị cáo T, trong quá trình chung sống, vợ chồng buôn bán gạo để cung cấp cho khách hàng kiếm thêm thu nhập. Trong quá trình làm ăn chủ yếu là bị cáo T đứng ra lập trình, lên phương án buôn bán, bị cáo Ư chỉ là người phụ giúp có vai trò không đáng kể. Quá trình kinh doanh bị thua lỗ, bị đối tác lừa gạt nên vợ chồng mất hết vốn liếng nên phải đi vay vốn để tiếp tục kinh doanh. Thông qua mối quan hệ thân quen của hai vợ chồng, các bị cáo đã vay tiền của những người bị hại để tiếp tục làm ăn nhằm gỡ lại số vốn đã mất, các khoản vay đều với lãi suất cao nên các bị cáo dần mất khả năng thanh toán. Do cứ tiếp tục vào việc buôn bán không có lãi và vay của người này trả cho người kia mong giữ lại chữ tín với các chủ nợ nhưng không làm được. Điều này chứng tỏ ý chí ban đầu của bị cáo là đi vay mượn để đầu tư làm ăn phát triển kinh tế gia đình chứ không có động cơ “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của các bị hại. Biết không thể trả nợ được cho các bị hại, trong thời điểm đó nhiều bị hại đã đến đòi và gây áp lực, có những hành động đe dọa đến tính mạng của bị cáo, chính vì lẽ đó bị cáo không còn cách nào khác là phải cùng nhau trốn đi nơi khác để làm ăn yên ổn và mong muốn có cơ hội trả nợ cho các bị hại. Bị cáo không nhận thức được hành vi này là vi phạm pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn ăn năn hối hận về những hành vi của mình gây ra cho các bị hại, hợp tác với cơ quan điều tra làm rõ hành vi của mình ngay từ ban đầu. Hoàn cảnh bị cáo rất khó khăn, không có tài sản gì để khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo có thời gian tham gia quân đội, có bố đẻ là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo ở mức 10 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Đức Ư đồng ý với Luận cứ bào chữa của Luật sư, không tranh luận gì thêm.
Người bị hại: Bà Lương Thị H4 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn S tranh luận: Khi bị cáo Ư giao cho gia đình chiếc xe ô tô, mà tài sản là có thật, trong bản cáo trạng lại nêu là các bị cáo cầm cố vay của Công ty V triệu, bà H5 trả 170 triệu, ông C1 trả 100 triệu. Khi mà bên An ninh điều tra thu giữ chiếc xe đó và nói rằng khi nào bắt vợ chồng Ư thì giải quyết. Bản cáo trạng không nêu về chiếc xe ô tô này như thế nào. Đề nghị làm rõ chiếc xe ô tô trên.
Kiểm sát viên đối đáp:
Đối với các bị cáo: Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì, nên Viện kiểm sát không tranh luận đối đáp.
Đối với ý kiến của Luật sư Ong Thị T1 bào chữa cho bị cáo T cũng đồng quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và có đề nghị cho bị cáo T hưởng mức hình phạt đầu khung là 12 năm. Quan điểm của Viện kiểm sát xác định trong vụ án này bị cáo T là người trực tiếp đứng ra vay tiền của nhiều người và trực tiếp sử dụng số tiền. Bị cáo đã nhiều lần vay tiền. Chưa khắc phục cho các bị hại từ khi phát hiện đến nay. Số tiền mà bị cáo chiếm đoạt trên 1,5 tỷ đồng, đối chiếu với khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự, thì số tiền chiếm đoạt từ 500 triệu trở lên có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, do vậy số tiền của bị cáo chiếm đoạt tương đối lớn, của nhiều người, nhiều lần. Do đó, không có căn cứ áp dụng xử phạt đầu khung cho bị cáo như đề nghị của Luật sư. Viện kiểm sát đề nghị áp dụng từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng là phù hợp. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Đối với Luận cứ của luật sư Hà Đình T3 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Ư, về phần tội danh Luật sư không có ý kiến gì, chỉ đề nghị xem xét xử phạt bị cáo 10 năm tù, mức hình phạt này là dưới khung hình phạt, tuy nhiên Luật sư không đưa ra tình tiết nào để áp dụng dưới khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Ư có tình tiết tăng nặng đó là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, và có 01 một tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có căn cứ áp dụng hình phạt dưới khung, số tiền phạm tội của bị cáo Ư cũng tương đối cao. Do vậy, Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo trên khởi điểm 12 năm 06 tháng là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đối với nội dung bà Lương Thị H4 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn S tranh luận về chiếc xe ô tô biển số 98K-2898,Viện kiểm sát đối đáp như sau: Chiếc xe ô tô biển số 98K-2898, đã được vợ chồng bị cáo T, Ư cầm cố để vay Công ty Vàng bạc đá quý số tiền 150.000.000 đồng trước thời điểm mà bị cáo Nguyễn Đức Ư thế chấp cho ông Nguyễn Văn S để vay 296.000.000 đồng. Sau khi bị cáo Ư bỏ trốn, cơ quan điều tra đã xác minh và xác định bị cáo Ư có chiếc xe ô tô này, sau đó ông S đã giao nộp cho cơ quan điều tra. Lúc đầu do vợ chồng bị cáo trốn khỏi địa phương, nên thời điểm đó không có căn cứ để xử lý chiếc xe này, do chiếc xe ô tô này trước đó đã cầm cố cho Công ty V. Và ông C1, bà H5 đã bỏ số tiền ra trả công ty, Cơ quan điều tra xác định tài sản là trả cho Công ty V, tuy nhiên công ty này đã giải thể và số tiền này đã được tất toán, Cơ quan điều tra đã giao cho cá nhân ông C1 quản lý khi nào bắt được các bị cáo thì xử lý. Tuy nhiên thời gian bị cáo trốn dài, dẫn đến việc xử lý chiếc xe này không kịp thời, do vậy, sau khi giao cho ông C1, ông C1 gửi một số nơi, xe xuống cấp hỏng, sau đó ông C1 chết. Cơ quan điều tra cũng xác minh, vợ con ông cũng không biết chiếc xe ở đâu. Tại phiên toà vợ chồng bị cáo cũng không có ý kiến gì về chiếc xe này. Thực ra ông C1 không được sử dụng chiếc xe này, không được hưởng lợi gì, đến nay đã hơn 20 năm nếu tìm được cũng không còn giá trị.
Các bên không ai tranh luận gì thêm, vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư: Các bị cáo xin lỗi người bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với cộng đồng làm ăn trả số tiền đã chiếm đoạt cho người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, Hội đồng xét xử thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và các Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và các Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Một số người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, mặt khác những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3] Tại phiên toà các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ năm 2002 đến đầu năm 2003, để có tiền kinh doanh và trả nợ, Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư là vợ chồng đã nhiều lần cùng nhau vay tiền sau đó không có khả năng thanh toán và đã bỏ trốn để chiếm đoạt. Số tiền T và Ư đã cùng nhau vay sau đó chiếm đoạt là 1.324.000.000 đồng, trong đó: Vay và chiếm đoạt của Công ty V số tiền 270.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn S số tiền 296.000.000 đồng; ông Hướng Xuân H1 số tiền 380.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn N2 số tiền 261.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N1 số tiền 117.000.000 đồng. Trần Thị T trực tiếp vay và chiếm đoạt tổng số 225.000.000 đồng, trong đó: Vay và chiếm đoạt của anh Lê Văn H2 số tiền 91.000.000 đồng; bà Tạ Thị H3 số tiền 80.000.000 đồng và bà Trần Thị G1 số tiền 54.000.000 đồng.
Tổng số tiền Trần Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.549.000.000 đồng; tổng số tiền Nguyễn Đức Ư phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.324.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS-P3 ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự; là đúng người, đúng tội và không oan đối với các bị cáo.
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, bị dư luận và quần chúng nhân dân đặc biệt lên án. Vì vậy, việc xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo là cần thiết.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng TNHS: Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư đó là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo phạm tội thời điểm đang áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng số tiền các bị cáo thực hiện nhiều lần chiếm đoạt trên 500 triệu đồng, do nhiều lần cộng lại với số tiền trên 500 triệu đồng, không có lần nào chiếm đoạt số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015; đây là yếu tố định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáoTrần Thị Thái có mẹ đẻ là bà Trần Thị N4 được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Nguyễn Đức Ư có thời gian tham gia Quân đội và có bố đẻ ông Nguyễn Đức G là thương binh hạng 2/4; tại phiên tòa bị hại bà H4 ( Vợ ông S ) xin giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư vay và chiếm đoạt tổng số tiền là 1.324.000.000 đồng, bao gồm: Công ty V số tiền 270.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn S số tiền 296.000.000 đồng; ông Hướng Xuân H1 số tiền 380.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn N2 số tiền 261.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N1 số tiền 117.000.000 đồng. Xét thấy đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công phân nhiệm. Đối với bị cáo Trần Thị T ngoài số tiền cùng với chồng là Nguyễn Đức Ư chiếm đoạt, bản thân bị cáo còn một mình chiếm đoạt tổng số 225.000.000 đồng, gồm anh Lê Văn H2 số tiền 91.000.000 đồng; bà Tạ Thị H3 số tiền 80.000.000 đồng và bà Trần Thị G1 số tiền 54.000.000 đồng nên bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo Ư.
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và phải buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành con người biết tuân thủ pháp luật và là công dân có ích cho xã hội và phục vụ cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo điều kiên kinh tế khó khăn, còn phải bồi thường cho người bị hại nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 175 BLHS.
[5] Đối với hành vi của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vi Văn C2 là Giám đốc và bà Thân Thị H5 là Quyền Trưởng phòng kế toán Công ty V đã ký bảo lãnh cho các khoản vay để Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T được mang tài sản về sử dụng. Hành vi của ông C2 và bà H5 có dấu hiệu của tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” được quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, ngày 20/5/2003, ông Vi Thế C1 và bà Thân Thị H5 đã nộp thay toàn bộ số tiền 270.000.000 đồng mà Nguyễn Đức Ư và Trần Thị T đã vay của Công ty V và tất toán khoản vay. Hậu quả của vụ việc đã được khắc phục triệt để, không gây ra hậu quả thiệt hại nào khác. Ông Vi Thế C1 đã chết và xét tính chất mức độ sai phạm, hậu quả của vụ việc đối với hành vi của bà Thân Thị H5, Cơ quan điều tra không đề cập xem xét xử lý là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư cùng đứng ra vay chiếm đoạt đến nay chưa trả được cho người bị hại xác định là 1.324.000.000 đồng, bao gồm: Khoản vay của Công ty V số tiền 270.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi (Bà Thân Thị H5 trả 170.000.000 đồng và 2.100.000 đồng tiền lãi, ông Vi Thế C1 100.000.000 đồng), ông Nguyễn Văn S số tiền 296.000.000 đồng, ông Hướng Xuân H1 số tiền 380.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn N2 số tiền 261.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N1 số tiền 117.000.000 đồng. Cần buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới trả cho người bị hại và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ lên quan mỗi bị cáo phải trả ½ số tiền đã chiếm đoạt.
Đối với số tiền bị cáo Trần Thị T một mình đứng ra vay chiếm đoạt đến nay chưa trả được cho người bị hại xác định là 225.000.000 đồng bao gồm của anh Lê Văn H2 số tiền 91.000.000 đồng, bà Tạ Thị H3 số tiền 80.000.000 đồng, bà Trần Thị G1 số tiền 54.000.000 đồng; cần buộc bị cáo T phải bồi thường.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 tủ cấp đông, màu trắng, nhãn hiệu SANAKY đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, biển số 21F1-4914, số máy HC12E2520760, số khung RLHHC1205AY020731, màu sơn đen bạc; Dung tích xi lanh: 97 cm³;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Magic màu đỏ biển số 98L8-1126, số máy VMVA1AD004036, số khung RLGMB11AD5D004036, màu sơn đỏ đen; Dung tích xi lanh 110cm³;
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức Ư là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị T phải nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Thị T 13 ( Mười ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023.
Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Ư 12 ( Mười hai) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023.
2. Về Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư phải liên đới bồi thường:
- Bà Thân Thị H5 172.100.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 86.050.000 đồng; bị cáo Ư 86.050.000 đồng.
- Bà Nông Thị H6 (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Vi Thế C1) 100.000.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 50.000.000 đồng; bị cáo Ư 50.000.000 đồng.
- Bà Lương Thị H4 (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn S) 296.000.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 148.000.000 đồng; bị cáo Ư 148.000.000 đồng.
- Ông Hướng Xuân H1 380.000.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 190.000.000 đồng; bị cáo Ư 190.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn N2 261.000.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 130.500.000 đồng; bị cáo Ư 130.500.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị N1 117.000.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo T 58.500.000 đồng; bị cáo Ư 58.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Trần Thị T phải bồi thường cho:
- Anh Lê Văn H2 91.000.000 đồng.
- Bà Trần Thị G1 54.000.000 đồng.
- Bà Tạ Thị H3 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Trả lại bị cáo Trần Thị T và Nguyễn Đức Ư nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án gồm:
- 01 tủ cấp đông, màu trắng, nhãn hiệu SANAKY đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, biển số 21F1-4914, số máy HC12E2520760, số khung RLHHC1205AY020731, màu sơn đen bạc; Dung tích xi lanh: 97 cm³;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 21007001 mang tên chủ xe là Nguyễn Thị H8, biển số 21F1-4914;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Magic màu đỏ biển số 98L8-1126, số máy VMVA1AD004036, số khung RLGMB11AD5D004036, màu sơn đỏ đen; Dung tích xi lanh 110cm³;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng mô tô, xe máy số 0152387 mang tên chủ xe là Trần Văn S1, biển số 98L8-1126.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Miễn nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đức Ư
- Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 38.641.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận: - VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang; - Sở TP tỉnh Bắc Giang; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo; những người tham gia TT; - Lưu HS, THS. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Gia Lương |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (abuse of trust to appropriate property)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Abuse of trust to appropriate property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thái và đồng phạm - LĐCĐTS
