TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08-5-2024
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Bích T, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2000; Nơi cư trú: Ấp A, xã TL, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1998; Nơi cư trú: Ấp LH, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 3 năm 2024, biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 4 năm 2024 và bản khai ngày 05 tháng 4 năm 2024 của nguyên đơn chị Lê Bích T trình bày: Vào năm 2016, chị có quen biết và tìm hiểu với anh Nguyễn Hoàng B, đến đầu năm 2017 thì tổ chức đám cưới, chị và anh Hoàng B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTHB (nay là xã TL), huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới cả hai cùng sống chung với gia đình chị. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có được 01 con chung, nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là sống với nhau không hợp nữa, tiền bạc của cải chị sắm cái gì cho anh B đeo thì anh B cũng bán hết, còn xe thì chạy đi đường thì nói bị người ta giật mất, còn vàng bạc của gia đình chị thì anh cũng ngang nhiên lấy, tuy đã nhiều lần xảy ra nhưng anh B vẫn không biết sửa đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và chị đã đuổi anh B đi và từ đó vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng B. Về nuôi con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2018, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Hoàng B đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng B; về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2018 cho chị Lê Bích T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bích T không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Bích T trình bày không có, còn anh Nguyễn Hoàng B không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Nguyên đơn chị Lê Bích T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hoàng B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Bích T và anh Nguyễn Hoàng B là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Bích T đối với anh Nguyễn Hoàng B, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Lê Bích T thì cuộc sống của chị và anh Nguyễn Hoàng B không hạnh phúc từ năm 2021 do anh Phong không chăm lo cho gia đình, vợ vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn về tiền bạc và của cải, anh B và chị đã không còn sống chung từ khoảng hơn 02 năm nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Bích T và anh Hoàng B hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Bích T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Bích T ly hôn với anh Nguyễn Hoàng B.
[4] Về việc nuôi con chung: Chị Lê Bích T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2018, không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng B cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Bích T và anh Hoàng B không còn sống chung và hiện nay thì con chung do chị Bích T chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bích T không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
4
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Bích T cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Nguyễn Hoàng B không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Bích T, cho ly hôn giữa chị Lê Bích T và anh Nguyễn Hoàng B.
- Về việc nuôi con chung:
- Chị Lê Bích T được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2018.
- Anh Nguyễn Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
5
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Bích T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004714 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh B
