TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-8-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Huyền.
- Ông Trần Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Nhi – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980; cư trú tại: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Văn D, sinh năm 1979; cư trú tại: ấp D, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Võ Văn D tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau năm 2021 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Từ năm 2023, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong gia đình, hai bên thiếu tôn trọng lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị O yêu cầu ly hôn với anh D.
Về con chung: chị O và anh D có 02 con chung gồm cháu Ung Nam P, sinh ngày 04/4/2018 và cháu Võ Quốc T, sinh ngày 20/10/2021; chị O thống nhất chị O nuôi cháu T, còn anh D nuôi cháu P, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Võ Văn D không đồng ý ly hôn, không trình bày gì thêm và đề nghị Toà án được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị O và anh D đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị O, chị O được ly hôn với anh Võ Văn D. Về con chung: giao anh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ung Nam P, sinh ngày 04/4/2018 và giao chị O trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Quốc T, sinh ngày 20/10/2021; ghi nhận không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: chị O và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị O và anh D đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Võ Văn D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Xét thấy, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Chị O yêu cầu được ly hôn với anh D vì lý do vợ chồng bất đồng quan điểm, không thể hàn gắn; anh D không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra giải pháp đoàn tụ, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị O và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của chị O được ly hôn với anh D theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: chị O và anh D có 02 con chung là cháu Ung Nam P, sinh ngày 04/4/2018 và cháu Võ Quốc T, sinh ngày 20/10/2021; chị O và anh D thống nhất chị O nuôi cháu T, còn anh D nuôi cháu P, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị O và anh D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị O đối với anh Võ Văn D về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị O được ly hôn với anh Võ Văn D.
- Về con chung:
Giao anh Võ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ung Nam P, sinh ngày 04/4/2018;
Giao chị Nguyễn Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Quốc T, sinh ngày 20/10/2021; Ghi nhận chị O và anh D, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị O và anh Võ Văn D không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị O phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004990 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị O đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị O và anh Võ Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
