Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 – 5 - 2024

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công
  2. Bà Trần Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Công - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà LHNN, sinh năm 1999; thường trú: C14.09 chung cư NTT, P19, quận BT, Thành phố H; tạm trú: nhà trọ Nguyễn Sang Thành B27/11 khu phố BT2, phường TG, thành phố TA, tỉnh B, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: VVĐ, sinh năm 1992; thường trú: Thôn TY, xã HT, huyện HT, tỉnh TH; tạm trú: nhà trọ Nguyễn Sang Thành B27/11 khu phố BT2 phường TG, thành phố TA, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn bà LHNN trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Đ tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và được sự đồng ý của gia đình hai bên. Ông bà đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá ngày 21/02/2018. Sau khi kết hôn ông bà sống không hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, ông Đ có tính gia trưởng, trước đây ông Đ có bạo lực gia đình nhưng bà không trình báo chính quyền mà tự mua thuốc uống điều trị, mỗi lần ăn nhậu là ông Đ chửi bới, xúc phạm bà và gia đình bà, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với ông VVĐ.
  • + Về con chung: Có 01 con chung VTA, sinh ngày 17/4/2018. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay tôi làm công nhân kiểm hàng của Công ty Duy Hưng tại khu chế xuất Hài Mỹ, không có tăng ca và bán hàng online thu nhập mỗi tháng khoảng 9.500.000 đồng nên bà xác định có khả năng nuôi con mà không cần ông Đạo cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • + Về nợ chung: Không có.

- Tại bản tự khai ngày 18/4/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn ông Vũ Văn Đạo trình bày: Ông Đ thống nhất lời trình bày của bà N về thời gian kết hôn, quá trình chung sống. Sau khi kết hôn ông bà sống không hạnh phúc, nguyên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, ông thừa nhận trước đây bản thân ông trước đây có bạo lực gia đình vì lúc đó có 01 mình ông đi làm, bị áp lực công việc và về mặt kinh tế nên dẫn đến vợ chồng có xô xát nhau, ông thừa nhận bản thân có ăn nhậu với bạn nhưng không thường xuyên, những lần chửi mắng là câu cửa miệng chứ ông không có ý xúc phạm vợ và gia đình bên vợ, bản thân ông vẫn làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, đi làm vẫn đưa lương cho bà N để phát triển kinh tế gia đình, bản thân ông vẫn còn yêu thương vợ con, không đồng ý ly hôn. Trong trường hợp bà N cương quyết ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.

  • + Về con chung: Có 01 con chung VTA, sinh ngày 17/4/2018. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Hiện nay ông làm đầu bếp cho bếp ăn công nghiệp, thu nhập mỗi tháng khoảng 13.000.000 đồng, không có tăng ca nên ông xác định có khả năng nuôi con mà không cần bà N cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • + Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông VVĐ có cư trú tại địa chỉ nhà trọ Nguyễn Sang Thành B27/11 khu phố BT 2, phường TG, thành phố TA, tỉnh B, căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Cả bà Ngân và ông Đạo đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[3] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Đ tự nguyện tìm hiểu chung sống, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá theo giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 21/02/2018, do đó hôn nhân của bà N và ông Đ là hợp pháp.

Quá trình tố tụng, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng nhưng địa phương không rõ. Nguyên đơn bà Ngân và ông Đạo thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, ông Đ thừa nhận trước đây có bạo lực gia đình do có 01 mình ông đi làm, bị áp lực công việc và về mặt kinh tế nên dẫn đến vợ chồng có xô xát nhau, ông thừa nhận bản thân có ăn nhậu với bạn nhưng không thường xuyên, những lần chửi mắng là câu cửa miệng chứ ông không có ý xúc phạm vợ và gia đình bên vợ, bản thân ông vẫn làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, đi làm vẫn đưa lương cho bà N để phát triển kinh tế gia đình, bản thân ông vẫn còn yêu thương vợ con, không đồng ý ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Đồng thời, đây là lần thứ 2 bà N nộp đơn ly hôn với ông Đ. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà N về việc ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Có 01 con chung VTA, sinh ngày 17/4/2018. Cả bà N và ông Đ đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu VTA còn nhỏ, cần sự chăm sóc giáo dục của người mẹ hơn cha do đó Hội đồng xét xử giao con chung VTA, sinh ngày 17/4/2018 cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 277; Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Hứa Ngọc Ngân đối với bị đơn ông Vũ Văn Đạo.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà LHNN được ly hôn với ông VVĐ
    • - Về con chung: Giao con chung VTA, sinh ngày 17/4/2018 cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà LHNN phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001667 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS tp Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2. Về án phí: Bà Lương Hứa Ngọc Ngân phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001667 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger