|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 07/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Ma Quốc Thể.
- 2. Ông Trần Hữu Lượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 07/5/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS, ngày 02/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Khổng Văn K, sinh ngày 01/02/1981 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Khổng Văn Ứ và con bà Lê Thị Q (Đều đã chết); vợ: Dương Thị H, sinh năm 1982, con: có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2018; A, chị, em ruột: Có 10 người, bị cáo là con thứ 09;
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- + Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 13/QĐ-UBND ngày 28/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01/4/2022 đã chấp hành xong;
- + Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 13/2022/QĐ-TA ngày 05/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, thời gian chấp hành là 01 năm 03 tháng.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2011/HSST ngày 14/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Khổng Văn K 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “hủy hoại tài sản”, án phí HSST 200.000đ (đã nộp án phí ngày 30/8/2011).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nịnh Hải N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/01/2024 Khổng Văn K là người sử dụng chất ma túy, đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ từ đoạn đường Đ gần nhà K đến khu vực huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. K xuống đi bộ thì gặp và mua của một người đàn ông, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, với số tiền 200.000đ. K cầm gói Heroine cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ đến đoạn đường vắng người, lấy một ít Heroine vừa mua được ra mảnh giấy bạc rồi đốt hít vào cơ thể, số còn lại K cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc, sau đó đi nhờ xe mô tô của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ về đến đoạn đường thuộc thôn P, xã T, huyện S thì xuống xe, khi K đang đi bộ thì gặp tổ công tác Công an xã Thiện kế đi tuần tra, phát hiện K có dấu hiệu sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác yêu cầu K về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T làm việc, K đã tự giác giao nộp 01 gói Heroine đang cất giấu trên người. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày đối với Khổng Văn K.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể Khổng Văn K, kết quả (+) dương tính. K khai ngày 12/01/2024 đã sử dụng ma túy.
Kết luận giám định số 176/KL - KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T. Kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng (thu giữ của Khổng Văn K) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,313gam (không phẩy ba một ba gam).
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSSD, ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Khổng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố bị cáo Khổng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Khổng Văn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/01/2024). Do bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Khổng Văn K, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị miễn nộp tiền án phí HSST cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo ông Nịnh Hải N trình bày luận cứ bào chữa: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Nhận thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố đối với bị cáo Khổng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Khổng Văn Ứ được tặng Giấy khen của Hội người cao tuổi Việt Nam, giấy khen của T công an Tuyên Q1, giấy khen của Ủy ban hành chính tỉnh Tuyên Quang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX xử bị cáo với mức án thấp nhất trong khung đề nghị của Viện kiểm sát; Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có việc làm ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo và đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 12/01/2024, tại khu vực thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Khổng Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,313gam (không phẩy ba một ba gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Khổng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị UBND xã Thiện Kế và Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt, và bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo mình trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục sử dụng ma túy và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo có bố đẻ là ông Khổng Văn Ứ được tặng Giấy khen của Hội người cao tuổi Việt Nam, giấy khen của T công an Tuyên Q1, giấy khen của Ủy ban hành chính tỉnh Tuyên Quang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc hộ nghèo, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa là phù hợp.
[4] Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Khổng Văn K, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 12/01/2024, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Khổng Văn K ngày 12/01/2024 Công an huyện S đã có công văn số 106/CV-CQCSĐT ngày 29/01/2024 đề nghị Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử lý vi phạm hành chính.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Khổng Văn K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí HSST. Xét thấy bị cáo là người thuộc hộ nghèo. Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. HĐXX chấp nhận miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Khổng Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Khổng Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/01/2024).
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Khổng Văn K; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Khổng Văn K giám định ngày 12/01/2024".
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Miễn 100% án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khổng Văn K;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Hữu Lượng - Ma Quốc Thể |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy, loại ma túy heroine
