|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số:41/2024/HS-ST Ngày: 05 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Hòa
2. Ông Bùi Đăng Thảnh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Anh N - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T
(Tên gọi khác Không) - Sinh ngày 20/11/1967; Nơi thường trú: Làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính N1; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp; Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Đình V (đã chết) con bà: Bùi Thị T1; sinh năm 1929; Vợ Bùi Thị H - Sinh năm 1966; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Bùi Thị H1 - Sinh năm 2004 (Có mặt)
Địa chỉ: Làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
* Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Chị Bùi Thị H2 - Sinh năm: 1997 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Lê Thị Thu V1 – Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh T4 pháp lý số 2, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31/3/2023 Công an xã K, huyện N tiếp nhận tin báo của chị Lê Thị T2 (sinh năm:1989, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) về việc cháu gái ở cùng gia đình chị là Bùi Thị H1 (sinh năm: 2004, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) bị đau bụng nên gia đình đưa đi khám ngày 30/3/2023 tại phòng khám A (địa chỉ: xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) kết quả phát hiện chị Bùi Thị H1 có thai 09 tuần 4 ngày.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm trên, Công an xã K đã tiếp hành xác minh ban đầu, xét thấy có dấu hiệu của tội phạm nhưng vượt quá thẩm quyền giải quyết Công an xã K đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 88/QĐ-CSĐT ngày 13/4/2023 để xét nghiệm AND của thai nhi và đối tượng nghi vấn là Nguyễn Nam K (sinh năm: 1989, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), tuy nhiên tại kết luận giám định số 1566/KT-KTHS ngày 24/4/2023 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận Nguyễn Nam K không có quan hệ cha con với thai nhi mà Bùi Thị H1 đã mang thai.
Ngày 09/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 108/QĐ-CSĐT để xét nghiệm AND của thai nhi và đối tượng nghi vấn là Bùi Văn H3 (sinh năm: 1978, trú tại: thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa); Bùi Văn H4 (sinh năm: 1991, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), tuy nhiên tại kết luận giám định số 1996/KT-KTHS ngày 29/5/2023 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận Bùi Văn H3, Bùi Văn H4 không có quan hệ cha con với thai nhi mà Bùi Thị H1 đã mang thai.
Ngày 02/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 135/QĐ-CSĐT để xét nghiệm AND của thai nhi và đối tượng nghi vấn là Nguyễn Đình T (sinh năm: 1967, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Tại Kết luận giám định số 2355/KL-KTHS của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận Nguyễn Đình T có quan hệ huyết thống (cha – con) với thai nhi, xác suất 99,999999%.
Ngày 29/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu giám định số:169/QĐ-CSĐT trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định pháp y tâm thần đối với Bùi Thị H1.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N nhận được kết luận số 429/KLGĐ ngày 04/12/2023 của V2 kết luận: Trước khi bị xâm hại tình dục và tại thời điểm giám định bị hại Bùi Thị H1 chậm phát triển tâm thần vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F71.
Từ những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xác định Nguyễn Đình T (sinh năm: 1967, trú tại: làng A, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) đã lợi dụng việc thiếu nhận thức của Bùi Thị H1 để quan hệ tình dục đối với H1; lời khai của T đã thừa nhận quan hệ với H1 một lần tại bãi cỏ voi nhà chị Hoa T3 thuộc thôn T, xã K, huyện N; phù hợp với lời khai của bị hại H1. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đình T. VKSND huyện Ngọc Lặc đã ra Quyết định phê chuẩn Quyết định khởi tố bị bị can, Lệnh bắt Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đình T.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Đình T khai báo như sau: Vào sáng ngày 16/01/2023, Bùi Thị H1 gọi điện thoại cho Nguyễn Đình T ra vườn trồng cỏ voi nhà “Hoa T3" ở tại thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, thấy H1 rủ nên Nguyễn Đình T đi ra vườn cỏ voi theo lời của H1, khi Nguyễn Đình T ra đến vườn cỏ voi thì thấy H1 đã đợi sẵn trên người không còn mặc quần, thấy T đến H1 tiến đến ôm lấy T, T và H1 ôm hôn nhau, ban đầu T đứng dựa vào tường bao (tường được xây bằng gạch vồ) của vườn cỏ, H1 đã tự dùng tay cởi quần của T và dùng miệng để ngậm dương vật của T (quan hệ tình dục bằng miệng) một lát sau H1 và T đổi vị trí cho nhau H1 đứng dựa vào tường bao, T đứng quay mặt vào H1, T và H1 thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau đến khi T xuất tinh vào âm đạo của H1, sau khi xuất tinh vào âm đạo của H1, T đã tự kéo quần lên rồi đi về nhà. Từ trước, Nguyễn Đình T biết rõ chị Bùi Thị H1 là người bị thiểu năng về trí tuệ, bị hạn chế về nhận thức và giao tiếp, thường hay nói nhiều thứ nhưng không hiểu gì và không hiểu người khác nói gì.
Tại Kết luận giám định số 2355/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận Nguyễn Đình T có quan hệ huyết thống (cha – con) với thai nhi của chị Bùi Thị H1, xác suất 99,999999%.
Tại kết luận giám định số 429/KLGĐ ngày 04/12/2023 của V2 kết luận: Trước khi bị xâm hại tình dục và tại thời điểm giám định bị hại Bùi Thị H1 chậm phát triển tâm thần vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F71.
* Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không
* Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện gia đình bị cáo thoả thuận, bồi thường dân sự với đại diện gia đình bị hại Bùi Thị H1, hai bên tự nguyện, thống nhất bồi thường thiện hại tổn thất về danh dự, nhân phẩm và tinh thần cho bị hại là số tiền 50.000.000đ; đến nay đã bồi thường được số tiền là 30.000.000đ, số tiền còn lại sẽ tiếp tục bồi thường sau; người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số: 28/CT-VKSNL ngày 26/4/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Đình T về tội “Hiếp dâm” theo điểm g khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 38; Bộ luật hình sự
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình T là từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
- - Về trách nhiệm dân sự. Đề nghị công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện gia đình người bị hại với tổng số tiền bồi thường là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa hôm nay gia đình bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã bồi thường xong.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của bà Lê Thị Thu V1, trợ giúp viên pháp lý, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại như sau:
Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng, mức hình phạt của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm nhân phẩm và sự phát triển về thể chất, tình dục, gây hậu quả tâm lý lâu dài, đặc biệt trong vụ án này bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội đối với người khuyết tật, không có khả năng điều khiển hành vi và nhận thức vì vậy đề nghị hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa gia đình bị cáo và đại diện gia đình người bị hại đã thỏa thuận được mức bồi thường dân sự, đây là sự tự nguyện của các bên nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận, về các nội dung khác của vụ án người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét.
* Phần tranh luận tại phiên tòa.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị hại thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Về phần dân sự bị cáo và gia đình người bị hại đã thống nhất số tiền bồi thường là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, về phần bồi thường gia đình bị hại không có ý kiến gì thêm. Về phần hình phạt đề nghị hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị cáo thống nhất với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải tạo, sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện phù hợp với quy định của BLTTHS. Tại phiên tòa ngày 04/6/2024 bị cáo Nguyễn Đình T đã khai: Bị cáo trước đây là đảng viên, ngày vào đảng của bị cáo là ngày 09/7/1989 bị cáo khai nhận đã bị khai trừ đảng do vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình (do sinh con thứ 4), quá trình điều tra, truy tố hồ sơ không thể hiện bị cáo đã là đảng viên, các tài liệu chứng cứ không thể hiện thời điểm bị cáo phạm tội có còn là đảng viên, quá trình điều tra có mâu thuẫn trong lời khai, hồ sơ có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm, do các vấn đề trên không thể khắc phục ngay tại phiên tòa được, do Hội đồng xét xử đã quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung để khắc phục những thiếu sót về tố tụng nói trên. Tại bản kết luận điều tra bổ sung của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã khắc phục được những nội dung mà Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của đại diện hợp pháp cho người bị hại phù hợp với các tài liệu, kết quả giám định pháp y, kết quả trưng cầu giám định xét nghiệm AND và chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 16/01/2023, tại vườn trồng cỏ voi nhà “Hoa T3” ở tại thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Đình T đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị Bùi Thị H1 dẫn đến hậu quả chị Bùi Thị H1 có thai 09 tuần 4 ngày.
[2.1] Tại Kết luận giám định của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận Nguyễn Đình T có quan hệ huyết thống (cha – con) với thai nhi của chị Bùi Thị H1, xác suất 99,999999%; Kết luận giám định của V2 kết luận: Trước khi bị xâm hại tình dục và tại thời điểm giám định bị hại Bùi Thị H1 chậm phát triển tâm thần vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F71.
[2.2] Bị cáo biết rõ chị Bùi Thị H1 là người bị thiểu năng về trí tuệ, bị hạn chế về nhận thức và giao tiếp, thường hay nói nhiều thứ nhưng không hiểu gì và không hiểu người khác nói gì; bị cáo đã lợi dụng và cố tình quan hệ tình dục với chị H1 để thỏa mãn nhu cầu, ham muốn của bản thân; do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đã lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân để cố ý quan hệ tình dục và dẫn đến hậu quả làm nạn nhân có thai nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng bởi lẽ: Sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác một cách trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh. Bị cáo Nguyễn Đình T có đầy đủ năng lực để điều khiển hành vi của mình, nhưng vì ham muốn cá nhân thấp hèn, lợi dụng người bị hại không đủ nhận thức và điều khiển hành vi để bảo vệ bản thân mình (Do chị H1 là người bị thiểu năng về trí tuệ) đã có hành vi Hiếp dâm với chị H1 kết quả làm nạn nhân có thai. Xét tính chất và hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đó là sau khi phạm tội bị cáo đã “bồi thường khắc phục hậu quả ” quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” bị cáo được đại diện gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng đó là, phạm tội với người khuyết tật được quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Đối với hành vi của Nguyễn Nam K. Trong quá điều tra truy tố, điều tra bổ sung ngoài lời khai của bị hại không có căn cứ để khẳng định Nguyễn Nam K thực hiện quan hệ tình dục với Bùi Thị H1. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tách hành vi của Nguyễn Nam K khi nào có căn cứ tiến hành xử lý sau là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và đại diện gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường với tổng số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa hai bên gia đình đã thống nhất việc bồi thường dân sự đã xong. Đại diện gia đình người bị hại không có ý kiến gì về phần bồi thường dân sự. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của các bên nên hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đối với bị cáo Nguyễn Đình T.
- - Tuyên bố: Nguyễn Đình T phạm tội “Hiếp dâm”.
- - Xử phạt: Nguyễn Đình T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại.
- - Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại. Tuyên bố bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bùi Đăng Thảnh |
Hà Thị Hòa |
Phạm Xuân Thành |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội hiếp dâm
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Hiếp dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự Hiếp dâm
