Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 06 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trương Phước Công - Nguyên Phó trưởng phòng GD&ĐT huyện Chợ Mới;
  • - Ông Võ Lâm Sơn - Giáo viên Trung Tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Chợ Mới.

Thư ký phiên toà: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 41/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Văn N, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1995, nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Văn N1 và bà Nguyễn Thị S; vợ là Nguyễn Thị Tô N2 (đã chết) và có 01 con, sống chung như vợ chồng với Nguyễn Minh H (bị hại trong vụ án); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh T, sinh năm 1982 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại:

  • - Bà Nguyễn Minh H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  • - Cháu Nguyễn Minh Bảo V, sinh ngày 12/3/2014; địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Minh Bảo V: Bà Nguyễn Minh H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang (bà H là mẹ đẻ của cháu V), cũng là bị hại trong vụ án (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Minh Bảo V: Bà Phạm Thanh Ái D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N3, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên hệ: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T1, Bà Mai Thanh T2, bà Mai Thanh T3, chị Nguyễn Ngọc G (có mặt bà T1, bà T2, bà T3, vắng mặt chị G).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 06/10/2023, Võ Văn N do ghen tuông mù quáng, sau khi uống rượu, nghi ngờ Nguyễn Minh H (là người sống như vợ chồng với N) có người đàn ông khác, N đã liên tục có hành vi sử dụng tay, chân và móc phơi đồ bằng nhôm, cán chổi để gây thương tích cho H và con riêng của H là cháu Nguyễn Minh Bảo V, dùng kéo cắt tóc của H rồi đuổi H, V ra khỏi nhà, sau đó khoảng 21 giờ cùng ngày, do H thuê ông Lê Văn N3 (chạy xe đò), chở H, V đến nhà N để lấy đồ, thì N phát hiện chạy theo xe kêu N3 dừng xe, H, V xuống xe bỏ chạy, khi này N dùng tay, chân, khúc gỗ, đánh, đạp vào người ông N3, nhưng được mọi người can ngăn. Do thương tích nhẹ, ông N3 từ chối giám định, không yêu cầu xử lý hình sự đối với N, không yêu cầu bồi thường, còn H, V sau khi bị thương tích, được gia đình đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thành phố C và trình báo sự việc ra Công an xã M, huyện C, sau đó N ra đầu thú.

Tang vật thu giữ gồm: 01 cây kéo bằng kim loại dài 21,3cm (tay cầm màu vàng dài 11,5cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 9,8cm, có in chữ "SK5"); 01 móc bằng kim loại màu trắng dài 40cm được gấp đôi; 01 cây chổi quét nhà dài 100cm (thân chổi bằng nhựa màu xanh dài 70,1cm, bông chổi cỏ dài 29,9cm).

Kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, hồ sơ bệnh án, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, bản ảnh xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận khám xét thương tích trên cơ thể người sống phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 715/23/KLTTCT-TTPY ngày 12/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Minh H, kết luận:

  1. Các kết quả chính:
  • - Chấn thương ngực kín, G1: Gãy cung bên xương sườn số V - VI - VIII bên trái;
  • - Tràn máu màng phổi trái, đã phẫu thuật đặt dẫn lưu màng phổi trái;
  • - Vết mổ dẫn lưu khoảng liên sườn VI - VII đường nách giữa bên trái kích thước 02cm. Các thương tích còn lại hiện tại chưa ổn định nên chưa thể xác định được tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
  1. Kết luận:
  • Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Minh H, áp dụng phương pháp cộng dồn tại thời điểm giám định là 16%. Do vật tày gây nên. Các thương tích còn lại sau khi điều trị ổn định, xuất viện và có đầy đủ hồ sơ liên quan, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung.

Tại kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống (bổ sung) số 715BS/23/KLTTCT-TTPY ngày 29/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Minh H, kết luận:

  1. Kết quả chính:
  • - Sẹo trán trái kích thước (01x0.1) cm, là sẹo có kích thước nhỏ;
  • - Bầm máu mi trên, mi dưới mắt trái hiện tại không để lại thương tích; Sây sát da dạng mảng má trái hiện tại không để lại thương tích;
  • - Sây sát da và bầm máu cánh mũi phải hiện không để lại thương tích; Sây sát da bầm máu cánh mũi trái hiện tại không để lại thương tích;
  • - Sưng bầm cánh tay, cẳng tay phải hiện tại không để lại thương tích;
  • - 03 (ba) vết sây sát da mặt sau 1/3 cánh tay trái để lại vết biến đổi sắc tố: Vết 01: kích thước (0.3 x 0.2) cm, vết 02: kích thước (03 x 0.1) cm, vết 03: kích thước (01 x 0.1) cm;
  • - Bầm máu mặt ngoài 1/3 cánh tay trái hiện tại không để lại thương tích;
  • - 14 (mười bốn) vết sây sát da vùng lưng: Vết 01 hiện tại không để lại thương tích, vết 02 để lại vết biến sắc tố kích thước (0.4 x 0.2) cm, vết 03 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.5 x 0.2) cm, vết 04 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (04 x 0.3) cm, vết 05 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.3 x 0.2) cm, vết 06 hiện tại không để lại thương tích, vết 07 hiện tại không để lại thương tích, vết 08 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (01 x 0.3) cm, vết 09 hiện tại không để lại thương tích, vết 10 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.5 x 0.3) cm, vết 11 hiện tại không để lại thương tích, vết 12 hiện tại không để lại thương tích, vết 13 hiện tại không để lại thương tích, vết 14 hiện tại không để lại thương tích;
  • - 10 (mười) vết sây sát da mặt sau đùi phải: vết 01 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (02 x 0.2) cm, vết 02 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (01 x 0.3) cm, Vết 03 để lại vết biến sắc tố kích thước (0.5 x 0.2) cm, vết 04 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (01 x 0.2) cm, vết 05 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.5 x 0.2) cm, vết 06 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (01 x 02) cm, vết 07 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (03 x 0.2) cm, vết 08 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.8 x 0.2) cm, vết 09 để lại vết biển đổi sắc tố kích thước (1.5 x 0.2) cm, vết 10 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (1.5 x 0.2) cm.
  • - Bầm máu vùng mặt trước ngoài sau đùi trái hiện tại không để lại thương tích;
  • - 02 (hai) vết sây sát da mặt trước ngoài 1/3 giữa đùi trái: vết 01 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (02 x 0.2) cm, vết 02 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (1.8 x 01) cm;
  • - 03 (ba) vết sây sát da mặt ngoài 1/3 giữa đùi trái: vết 01 để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.5 x 0.3) cm, vết 02 hiện tại không để lại thương tích, vết 03 hiện tại không để lại thương tích;
  • - Sây sát da mặt sau 1/3 giữa đùi trái để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.1 x 0.2) cm.
  1. Kết luận:
  • Xác định bổ sung tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Minh H tại thời điểm giám định là 14%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Min H1 là 28%.

  1. Kết luận khác:
  • Tất cả các thương tích trên do vật tày gây nên.

Tại kết luận giám định số 743/23/KLNĐTE-TTPY ngày 15/11/2023 của Trung tâm pháp ly tỉnh A đối với Nguyễn Minh Bảo V, kết luận:

  1. Các kết quả chính:
  • - Sây sát da vùng sống mũi đẻ lại sẹo hơi lõm, kích thước (01 x 0.2) cm;
  • - 03 (ba) vết sây sát da vùng lưng phải để lại vết biến đổi sắc tố: vết 01 kích thước (02 x 0.2) cm, vết 02 kích thước (0.5 x 0.3) cm, vết 03 kích thước (0.3 x 0.3) cm;
  • - 04 (vết) sây sát da vùng lưng trái để lại vết biển đổi sắc tố: vết 01 kích thước (0.2 x 0.2) cm, vết 02 kích thước (0.3 x 0.2) cm, vết 03 kích thước (0.3 x 0.1) cm, vết 04 kích thước (03 x 0.3) cm;
  • - Sây sát da vùng lưng trái cạnh cột sống để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (1.5 x 0.3) cm;
  • - 03 (ba) vết sây sát da vùng thắt lưng trái để lại vết biến đổi sắc tố: vết 01 kích thước (1.5 x 0.3) cm, vết 02 kích thước (1.5 x 0.3) cm, vết 03 kích thước (01 x 0.3) cm;
  • - 02 (hai) vết sây sát da vùng hông phải để lại vết biến đổi sắc tố: vét 01 kích thước (0.3 x 0.3) cm, vết 02 kích thước (02 x 0.3) cm;
  • - Sây sát da vùng hông trái để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (02 x 0.3) cm;
  • - 03 (ba) vết sây sát da vùng mông phải để lại vết biến đổi sắc tố: vết 01 kích thước (03 x 0.3) cm, vết 02 kích thước (01 x 0.3) cm, vết 03 kích thước (03 x 0.4) cm;
  • - 02 (hai) vết sây sát da mặt ngoài vùng mông phải để lại vết biến đổi sắc tố: vết 01 kích thước (0.5 x 0.2) cm, vết 02 kích thước (0.8 x 0.3) cm;
  • - Sây sát da mặt sau 1/3 trên đùi phải đẻ lại vết biến đổi để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.3 x 0.3) cm;
  • - Sây sát da mặt trước trong 1/3 dưới cẳng chân trái để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0.3 x 0.2) cm.
  1. Kết luận:
  • Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Minh Bảo V, áp dụng phương pháp cộng dồn tại thời điểm giám định là: 15%.
  1. Kết luận khác:
  • thương tích trên do vật tày gây nên.

Tại đơn xin từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự ngày 25/10/2023, ông Lê Văn N3 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với Võ Văn N.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Minh H, cháu Nguyễn Minh Bảo V (do bà H đại diện hợp pháp) không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSCM ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã truy tố Võ Văn N, tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Võ Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn N vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Minh H, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Minh Bảo V trình bày sự việc đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất cho bị cáo N; còn về phần trách nhiệm dân sự đến nay vẫn không yêu cầu bồi thường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Lê Văn N3 vắng mặt không ghi nhận được ý kiến tại phiên tòa, nhưng lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Người làm chứng có mặt và vắng mặt đều khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn N từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại dài 21,3cm (tay cầm màu vàng dài 11,5cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng dài 9,8cm, có in chữ "SK5”); 01 móc cây treo quần áo bằng kim loại màu trắng dài 40cm được gấp đôi; 01 cây chổi quét nhà dài 100cm (thân chổi bằng nhựa màu xanh dài 70,1cm, bông chổi cỏ dài 29,9cm).

Người bào chữa của bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Minh B V đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo mặc dù có lỗi lầm, nhưng mong muốn của bị hại, cũng như đại diện hợp pháp của bị hại là giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo Võ Văn N nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N3, người làm chứng là bà G vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do ghen tuông mù quáng, nên sau khi uống rượu, khoảng 14 giờ 30 ngày 06/10/2023, bị cáo Võ Văn N đã có hành vi dùng tay, chân đánh đạp vào người Nguyễn Minh H dẫn tới H bị ngã trúng vào võng bằng gỗ gây thương tích ở trán, sau khi N chở H đi khâu vết thương tại Trạm y tế xã M, sau đó đến nhà Nguyễn Thị T1 (cô ruột của N) chơi, N thấy cháu V (con ruột của H) đến nhà T1 chơi, do còn bực tức nên bị cáo N đã lấy móc treo quần áo (loại bằng kim loại) trong nhà của T1 bẻ thẳng, gấp làm đôi, đánh nhiều cái vào người H và V, bị cáo chở H, V về nhà của bị cáo, do nghi ngờ H lấy vàng của N cho người đàn ông khác, nên bị cáo tiếp tục dùng tay, chân, móc treo quần áo, cán chổi bằng nhựa đánh, đạp nhiều cái vào người H và V, lấy kéo cắt tóc H, dẫn đến thương tích cho H là 28%, V là 15%. Ngoài ra, khoảng 21 giờ cùng ngày, khi H và V quay lại nhà bị cáo lấy đồ, H có thuê ông Lê Văn N3 (là người chở xe đò) chở đồ, bị cáo chạy xe theo kêu ông N3 dừng xe, khi này H và V bỏ chạy, bị cáo dùng tay, chân, khúc gỗ đánh, đạp nhiều cái vào người ông N3, nhưng được mọi người can ngăn, do ông N3 không yêu cầu xử lý hình sự, nên không xem xét hành vi gây thương tích của bị cáo đối với ông N3.

Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Văn N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nguyên nhân dẫn đến hậu quả là do bị cáo say rượu, ghen tuông mù quáng, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội dùng tay, chân đánh vào người bị hại và móc treo quần áo, cán chổi bằng nhựa là hung khí nguy hiểm đánh, đập vào người của bị hại gây nên tổn thương cơ thể cho bị hại H là 28% và V là 15%, bị cáo còn có hành vi gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi là cháu V, do đó hành vi nêu trên thuộc trường hợp “cố ý gây thương tích do dùng hung khí nguy hiểm và đối với người dưới 16 tuổi, phạm tội với 02 người” là các tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Võ Văn N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người; đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ, mục đích của tội phạm là nhằm gây tổn hại sức khỏe của người khác; tội phạm được thực hiện một cách quyết liệt đối với chính người thân thích của mình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường, quá trình tố tụng bị hại, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị không xử lý hình sự đối với hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có con còn nhỏ, không ai chăm sóc, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, nhưng hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, các tổn thương về cơ thể cho bị hại H, bị hại V là lâu dài, tổn thương về tinh thần đối với bị hại V cần phải có thời gian để khắc phục, hành vi phạm tội của bị cáo gây thương tích tổn hại cơ thể của 02 người trở lên, có tính chất côn đồ, với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị áp dụng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với ý chí của bị hại tại phiên tòa. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhiều tính tiết định khung, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N3 không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, không yêu cầu bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bị hại, đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm gì khác, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 cây kéo bằng kim loại; 01 móc cây móc bằng kim loại; 01 cây chổi quét nhà đã thu giữ là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Văn N 07 (B1) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/10/2023).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại; 01 cây móc bằng kim loại; 01 cây chổi quét nhà (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/5/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là người dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Công an huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Nhà tạm giữ, Công an huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trung Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo dùng tay chân, móc quần áo đánh vào người bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger