|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/KDTM-ST Ngày: 05-8-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thảo;
- Bà Lê Thị Mộng Tuyền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 05/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 52/2024/TLST-KDTM ngày 26/3/2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH G; địa chỉ: Thửa đất số 3020 tờ bản đồ 33 đường Đ, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông CHEN HUI CHUN, chức danh: Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ D, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và bà Bàng N, sinh năm 1976; địa chỉ: I L, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 28/02/2024). Có đơn xin vắng mặt
Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: T, 413 tờ bản đồ số 33 đường Đ, Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phan Thị Thùy M, chức danh: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH G (Công ty G) và Công ty TNHH S (Công ty S) có thỏa thuận mua bán hàng hóa là bao bì với nhau. Theo đó tháng 6 và tháng 7 năm 2022, Công ty G đã giao hàng nhiều đợt cho Công ty S. Ngày 12/8/2022, Công ty G đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 287 cho Công ty S với giá trị hàng hóa là 70.365.521 đồng.
Ngày 21/02/2023, Công ty S đã thanh toán cho Công ty G số tiền 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại 40.365.521 đồng, Công ty G nhiều lần yêu cầu Công ty S thanh toán nhưng Công ty S vẫn không thanh toán.
Do đó, Công ty G khởi kiện Công ty S, yêu cầu Công ty S phải thanh toán số tiền 40.365.521 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ cho bị đơn, triệu tập nhiều lần nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty S không có mặt, không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Các đương sự đều có tư cách pháp nhân, tranh chấp với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại và đều có mục đích lợi nhuận. Do bị đơn có trụ sở tại thành phố T, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; đối với người đại diện hợp pháp của bị đơn, Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn vắng mặt. Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3] Về ký kết thực hiện hợp đồng: Các bên không ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa bằng văn bản, tuy nhiên theo nội dung Hóa đơn giá trị gia tăng, Phiếu đối chiếu công nợ, các Phiếu giao hàng, Đơn đặt hàng, Giấy báo có ngày 21/02/2023 do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có hoạt động mua bán hàng hóa. Trong tháng 6 và tháng 7 năm 2022, nguyên đơn đã bán và giao hàng cho bị đơn nhiều lần với tổng giá trị hàng hóa là 70.365.521 đồng. Nguyên đơn cung cấp “Lệnh thanh toán Lệnh có” có nội dung ghi nhận ngày 21/02/2023, Công ty S đã thanh toán cho Công ty G số tiền 30.000.000 đồng đối với Hóa đơn 287. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn nhận được thông báo thụ lý, không có ý kiến phản đối trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc thanh toán của mình. Như vậy có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền hàng là 40.365.521 đồng. Bị đơn không thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn là vi phạm quy định tại Điều 50 của Luật Thương mại. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 40.365.521 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 257, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 50 của Luật Thương mại;
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH G về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” với bị đơn Công ty TNHH S:
Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Công ty TNHH G nợ gốc 40.365.521 đồng (Bốn mươi triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi mốt đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm:
Buộc Công ty TNHH S phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty TNHH G tạm ứng án phí 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001188 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
3
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưởng |
4
Bản án số 41/2024/KDTM-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 41/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán tài sản
