|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-6-2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Duy Trâm;
Ông Trần Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K' Dem- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày ngày 04/3/2024 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1995; nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: anh Trần Đình Việt T1, sinh năm: 1989; nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Chị T có mặt, anh T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của chị Nguyễn Thị T thì:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T1 kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, cách làm ăn, nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm nhau. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được nên đã sống ly thân từ cuối tháng 7/2023 đến nay. Từ khi sống ly thân, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T1, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Trần Đình Việt T1.
- Về con chung: vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 và cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020, hiện cháu N, cháu Đ đang ở với ba, cháu T2 đang ở với mẹ. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung là cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho đến khi con đủ tuổi thành niên; đồng ý giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên hòa giải; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T1 nhưng anh T1 không đến Tòa làm việc.
Tại phiên tòa, chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1; yêu cầu được nuôi con chung là cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho đến khi con đủ tuổi thành niên; đồng ý giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, thì Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt.
2
Về nội dung: về quan hệ hôn nhân: xét mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 có xảy ra và thực tế đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, trình bày ý kiến, tham gia phiên tòa là thể hiện thái độ bỏ mặc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T và anh T1 được ly hôn.
Về con chung: giữa chị T và anh T1 có ba con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 và cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020, hiện cháu N, cháu Đ đang ở với ba, cháu T2 đang ở với mẹ. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho đến khi con đủ tuổi thành niên; đồng ý giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Xét thấy hiện nay cháu T2 đang ở với chị L; các cháu N, Đ đang ở với anh T1 có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.
Về tài sản chung và nợ chung: giữa chị T và anh T1 không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: buộc chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1, yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
[2] Về tố tụng: anh T1 vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3
[3] Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được ba năm thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị T nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, cách làm ăn, nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm nhau. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được nên đã sống ly thân từ cuối tháng 7/2023 đến nay. Từ khi sống ly thân, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T1, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Tòa án triệu tập hợp lệ anh T1 nhiều lần nhưng anh T1 không đến Tòa làm việc, không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng là thể hiện thái độ bỏ mặc, hơn nữa anh T1, chị T đã sống ly thân một thời gian dài nhưng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T. Cho chị T và anh T1 được ly hôn.
[4] Về con chung: giữa chị T và anh T1 có ba con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 và cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020, hiện cháu N, cháu Đ đang ở với anh T1; cháu T2 đang ở với chị T. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020; đồng ý giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Xét thấy hiện nay cháu T2 đang ở với chị L, có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường, lại còn nhỏ; Tòa án lấy lời khai của cháu N, cháu Đ thì các cháu trình bày đang ở với anh T1, ba mẹ ly hôn đều có nguyện vọng được ở với anh T1, các cháu đang có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu cần giao con chung tên Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013, cháu Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.
4
[6] Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác định không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[7] Về án phí: chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị T và anh Trần Đình V T1 ly hôn.
2. Về con chung: giao con chung tên Trần Gia T2, sinh ngày 18/5/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao hai con chung tên Trần Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/5/2013 và Trần Đình Nhật Đ, sinh ngày 28/02/2015 cho anh Trần Đình V T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0005619 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, chị T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng anh T1 vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |
6
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Trần Đình Việt T
