Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DSST

Ngày: 03/7/2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai

Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2023/TLST-DS ngày 29/11/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (S); Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Bà Lã Thị H - Chức vụ: Phó Giám đốc Khối xử lý nợ (Theo giấy ủy quyền số 469/2023/UQ-SeABank ngày 18/7/2023 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Đ); Bà Lã Thị H ủy quyền cho ông Lê Văn H1 và ông Nguyễn Duy A (Theo Giấy ủy quyền số 16564/2023/UQ-SeABank ngày 23/10/2023). (Ông H1 có mặt).

Đồng bị đơn:

1. Ông Trần Hoàng A1; sinh năm 1988; HKTT tại: số E H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Hiện đang thi hành án tại trại giam H4, Thành phố C, Tỉnh Hải Dương. (Ông Hoàng A1 vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; HKTT và nơi ở tại: Số A, tổ D H, phường Ô, quận Đ, Đ, Thành phố Hà Nội. Nơi ở: 164 ngõ C Đê L, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội. (Bà H2 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/11/2017, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 vay vốn tại S theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Mục đích vay vốn: Thanh toán 1 phần tiền mua xe ô tô; Thời hạn: Từ ngày 30/11/2017 đến ngày 30/11/2023; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn áp dụng cho 12 tháng đầu tiên của khoản vay là 8,9%/năm. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định theo quy định của S trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: Bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên, S đã giải ngân cho ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).

Ngoài ra, S cấp hạn mức cho ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ khoản vay mua oto tiêu dùng seacar và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 29/11/2017 (sau đây gọi chung là Hợp đồng thẻ) với tổng hạn mức là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho toàn bộ khoản vay là: 01 xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES BENZ, số loại C200; Số khung: RLMWF4CXXGV002698, số máy: 27492030747816, BKS: 30E – 990.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 410847 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 29/11/2017. Chi tiết về việc thế chấp tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1733400037/HĐTC ký ngày 30/11/2017. TSBĐ được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S. Tính đến ngày 3/7/2024, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 đã thanh toán cho S tổng số tiền là: 56.988.608 đồng (bao gồm: 38.145.817 đồng nợ gốc, 18.842.791 đồng nợ lãi). S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 trả nợ nhưng ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng.

Tạm tính đến ngày 03/7/2024, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 còn nợ Ngân hàng S cụ thể:

  • SỐ HĐTD REF1733400037/HĐTD ngày 30/11/2017: Nợ gốc: 961.854.183 đồng; Nợ lãi trong hạn: 317.413.749 đồng; Nợ lãi quá hạn: 696.224.941 đồng. Tổng: 1.975.492.873 đồng. Đã thanh toán được 37.922.276 đồng nợ gốc, 18.208.185 đồng nợ lãi. Lãi suất đang áp dụng là 12.7%/năm.
  • Thẻ tín dụng Visa: 49.449.793 đồng nợ gốc; 0 đồng nợ lãi trong hạn; 129.649.253 đồng nợ lãi quá hạn; Tổng: 179.099.046 đồng. Đã thanh toán được 634.606 đồng nợ lãi. Lãi suất đang áp dụng là 30%/năm.

Ngân hàng không được thông báo gì về việc bị đơn ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 cho ai thuê, mướn, mượn chiếc xe trên, cũng không biết được xe đang ở đâu, do ai quản lý và sử dụng, không biết hiện trạng cụ thể chiếc xe do không được đồng bị đơn thông báo. Ông Trần Hoàng A1 bị bắt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” không liên quan gì đến vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2. Đối với việc Toà án không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ chiếc xe trên do đồng bị đơn không biết chiếc xe ở đâu nên không đưa được đến Toà án để tiến hành thẩm định, Ngân hàng không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng S đề nghị Toà án giải quyết:

  1. Buộc ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 thanh toán cho S khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ký ngày 30/11/2017 và Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, tạm tính đến ngày 03/7/2024 là 2.154.591.919 đồng (Bao gồm: 1.011.303.976 đồng nợ gốc; 317.413.749 đồng nợ lãi trong hạn; 825.874.194 đồng nợ lãi quá hạn).
  2. Buộc ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục trả nợ cho S các khoản tiền nợ lãi, phí,... phát sinh theo theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ký ngày 30/11/2017 và Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, kể từ ngày 4/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  3. Kể từ ngày Quyết định/Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại, bán/chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Cụ thể TSBĐ là: 01 xe ôt ô nhãn hiệu MERCEDES BENZ, số loại C200; Số khung: RLMWF4CXXGV002698, số máy: 27492030747816, BKS: 30E – 990.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 410847 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 29/11/2017. Chi tiết về việc thế chấp tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1733400037/HĐTC ký ngày 30/11/2017. TSBĐ được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định.
  4. Trường hợp số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ, thì ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Tại bản tự khai ngày 24/4/2024 và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn Bà Nguyễn Thị H2 trình bày:

Bà H2 đã nhận được thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng của Toà án, đồng ý để Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án. Bà H2 là vợ ông Trần Hoàng A1, thời điểm năm 2017 ông Hoàng Al có vay tín dụng và thế chấp tại Ngân hàng S, do bà H2 là vợ nên hai vợ chồng phải cùng nhau kí kết khoản vay và hợp đồng thế chấp, mặc dù khoản vay này đứng tên chồng bà H2: Trần Hoàng A1. Do thời gian cũng quá lâu nên bà không nhớ số tiền vay, số tiền nợ, gốc lãi là bao nhiêu.

Bà H2 xác nhận tài sản thế chấp như nguyên đơn trình bày.

Tháng 5/2019, ông Hoàng Al bị bắt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” không liên quan đến vụ án Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và vợ chồng ông Hoàng A1, bà H2. Hiện ông Hoàng A1 đang thi hành án tại K1, trại giam H4, Thành phố C, Hải Dương, bị xử phạt: 15 năm tù, do đó, không thể tiếp tục thực hiện thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng S. Kể từ thời điểm ông Hoàng A1 bị bắt đến nay, bà H2 không biết chiếc xe hiện đang ở đâu, do ai quản lý và không biết hiện trạng chiếc xe như thế nào. Bà có vào trại thăm ông Hoàng A1 nhưng ông Hoàng Al cũng không nắm rõ được chiếc xe đang ở đâu, do ai quản lý và sử dụng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Tòa án tiến hành lấy lời khai của bị đơn - ông Trần Hoàng A1, hiện đang chấp hành án tại trại giam H4, thành phố C, tỉnh Hải Dương:

Ông Trần Hoàng A1 trình bày: Ông Hoàng A1 đã được Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ. Đối với việc Tòa án thụ lý vụ án, ông không có ý kiến gì. Ông nhất trí việc Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý vụ án và xác định ông Trần Hoàng A1 là bị đơn trong vụ án. Ông không có yêu cầu phản tố và không có tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án. Ông Hoàng Al xác nhận việc ký kết các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đúng theo quy định của pháp luật. Về các khoản nợ, lãi ông không có ý kiến gì.

Hiện ông Hoàng A1 đang thi hành án tại trại giam H4, thành phố C, Hải Dương, không liên quan đến vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng S và bị đơn ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2.

Đối với tài sản bảo đảm: Ông Hoàng A1 không biết hiện ai đang quản lý, sử dụng chiếc xe này. Vợ ông là bà Nguyễn Thị H2 cũng không biết xe đang ở đâu. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông Trần Hoàng A1 đề nghị được giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Giữ nguyên yêu cầu tại đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc bị đơn – Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng đã ký với số tiền tạm tính đến ngày 03/7/2024 là: 2.154.591.919 đồng (Bao gồm: 1.011.303.976 đồng nợ gốc; 317.413.749 đồng nợ lãi trong hạn; 825.874.194 đồng nợ lãi quá hạn). Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2 phải chịu toàn bộ tiền án phí.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn: Ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Việc yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ; thu thập chứng cứ; tiến hành thủ tục tố tụng được tiến hành công khai, minh bạch, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 22 Bộ Luật Tố tụng dân sự, vi phạm thời hạn xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S) đối với ông Trần Hoàng Al và bà Nguyễn Thị H2. Buộc ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2. phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả cho Ngân hàng TMCP Đ (S). Trường hợp ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2 không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP Đ (S) có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm đã thế chấp ở trên để thu hồi nợ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[I]. Về thủ tục tố tụng:

1. Về thẩm quyền: Ngân hàng S1, Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội khởi kiện Ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2, ông Hoàng A1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: số E H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Các đương sự đồng để Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý, giải quyết vụ án. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng S khởi kiện ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 yêu cầu Tòa án tuyên ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký giữa S và ông Hoàng A1, bà H2. Số tiền tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (gọi tắt là BLTTDS năm 2015).

3. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thu thập, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

4. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự cho ông Hoàng A1 và bà H2 để triệu tập ông Hoàng A1, bà H2 đến Tòa án giải quyết vụ án dân sự Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo đơn khởi kiện của Ngân hàng S. Ông Trần Hoàng A1 hiện đang chấp hành án tại trại giam H4, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Toà án đã tiến hành lấy lời khai của ông Hoàng A1 tại trại giam H4. Ông Hoàng A1 và bà H2 có đề nghị xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[II]. Về nội dung vụ án:

1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc đồng bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi đối với Hợp đồng tín dụng đã kí kết:

Ông Trần Hoàng A1 và bà Nguyễn Thị H2 đã ký kết các Hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ngày 30/11/2017, giấy nhận nợ ký kết giữa S và ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2; Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Mục đích vay vốn: Thanh toán 1 phần tiền mua xe ô tô và Hợp đồng thẻ tín dụng kí ngày 29/11/2017 có hạn mức là 50.000.000 đồng.

Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng trên, ngân hàng S đã giải ngân cho ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Và bàn giao Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 01 thẻ tín dụng có hạn mức là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều công nhận việc ký kết Hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, đúng chủ thể tham gia ký kết hợp đồng nên Hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S. Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 đã thanh toán cho S tổng số tiền là: 56.988.608 đồng (bao gồm: 38.145.817 đồng nợ gốc, 18.842.791 đồng nợ lãi). S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 trả nợ nhưng ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng.

Tạm tính đến ngày 03/7/2024, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 còn nợ Ngân hàng S số tiền là: 2.154.591.919 đồng (Bao gồm: 1.011.303.976 đồng nợ gốc; 317.413.749 đồng nợ lãi trong hạn; 825.874.194 đồng nợ lãi quá hạn). Đối với Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ngày 30/11/2017 là : 1.975.492.873 đồng ( Bằng chữ: Một tỷ, chín trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 961.854.183 đồng; Nợ lãi trong hạn 317.413.749 đồng; Nợ lãi quá hạn: 696.224.941 đồng.

Đối với Hợp đồng thẻ tín dụng là: 179.099.046 đồng ( Bằng chữ: Một trăm bảy mươi chín triệu, không trăm chín mươi chín nghìn, không trăm bốn mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc: 49.449.793 đồng ; Nợ lãi trong hạn: 0 đồng; Nợ lãi quá hạn: 129.649.253 đồng.

Xét, Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Mục đích vay vốn: Thanh toán 1 phần tiền mua xe ô tô; Thời hạn: Từ ngày 30/11/2017 đến ngày 30/11/2023; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn áp dụng cho 12 tháng đầu tiên của khoản vay là 8,9%/năm. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định theo quy định của S trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: Bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Hợp đồng tín dụng này là: Lãi suất cho vay trong hạn là 12.7%/năm; Lãi suất quá hạn là 21.85%/năm; Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm. Theo Quyết định v/v: Ban hành lãi suất VND kỳ hạn 13/14 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ số 2148/2024/QĐ – TGĐ ngàt 22/02/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng S. Hiện đang áp dụng lãi suất thay đổi là 12.7%/năm.

Xét, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ khoản vay mua ô tô tiêu dùng SEACAR và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân (áp dụng cho Gói sản phẩm SeAGrandprix) (Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng); Hạn mức: 50.000.000 đồng; Lãi suất: theo quy định của S từng thời kỳ. Lãi suất của thẻ tín dụng tại thời điểm xét xử là: 30%/năm theo quy định tại Quy định sản phẩm thẻ dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đ số 2412/2021/QĐ – TGĐ ngày 26/02/2021

Công thức tính lãi trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn x dư nợ gốc trong hạn x số ngày tính lãi/365; Công thức tính lãi quá hạn: Lãi suất quá hạn x dư nợ gốc quá hạn x số ngày tính lãi/365; Công thức tĩnh lãi chậm trả lãi: 10% x số tiền chậm trả x số ngày chậm trả lãi/365 (lãi suất quá hạn = 150% lãi suất cho vay trong hạn).

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác nhận số nhận toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả đã được tính đúng như trong Hợp đồng tín dụng đã kí kết; Đồng bị đơn xác nhận toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng.

Sự thoả thuận về lãi suất của các đương sự là phù hợp với Điều 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư 39/2016 ngày 30/12/2016; Quyết định số 1425/QĐ – NHNN ngày 07/7/2017 của Ngân hàng N về mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam; Điều 7, 8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất và Điều 468 BLDS 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, xác định tạm tính đến ngày 03/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm), ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 còn nợ ngân hàng S số tiền theo hai Hợp đồng tín dụng đã kí kết trên là: 2.154.591.919 đồng. Bao gồm: 1.011.303.976 đồng nợ gốc; 317.413.749 đồng nợ lãi trong hạn; 825.874.194 đồng nợ lãi quá hạn.

Ngân hàng S yêu cầu ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H3 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh của số tiền nợ gốc và lãi chậm trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên kể từ ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 04/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2. Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ:

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng trên, ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: REF1733400037/HĐTC ngày 30/11/2017, đăng ký giao dịch bảo đảm số ngày 30/11/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội. Chi tiết tài sản thế chấp như sau: 01 xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES BENZ, số loại C200; Số khung: RLMWF4CXXGV002698, số máy: 27492030747816, BKS: 30E – 990.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 410847 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 29/11/2017 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1733400037/HĐTC ký ngày 30/11/2017. Tải sản được đăng kí giao địch đảm bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch đảm bảo Thành phố Hà Nội ngày 26/12/2017.

Xét, Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền, do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

Điều 1. Nghĩa vụ bảo đảm và Điều 7 xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp nói trên quy định: “1. Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình được nêu tại Điều 2 Hợp đồng này và dùng toàn bộ giá trị tài sản này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự của Bên thế chấp, đồng thời là Bên vay vốn Bên được cấp tín dụng, đối với S phát sính trước, tại hoặc sau thời điểm ký Hợp đồng này bao gồm, nhưng không giới hạn trong: a) Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay (nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, các khoản phạt chậm trả, phạt vi phạm, chỉ phí xử lý tải sản thế chấp, các khoản chi phí và phải trả khác của Bên thế chấp theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ngày 30/11/2017 và các Hợp đồng tín dụng khác ký giữa Bên thế chấp và S trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng này đến ngày 30/11/2037”; “1. Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp: a) Khi đến thời hạn trả nợ mà Bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì S được quyền xử lý một phần hoặc toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ”.

Phòng C Công an Thành phố H có văn bản phúc đáp chiếc xe ô tô nói trên, chủ xe là ông Trần Hoàng A1. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã yêu cầu các bên đương sự xuất trình các chứng cứ, vị trí chiếc xe để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, tuy nhiên các đương sự không xuất trình. Do đó, các bên đương sự hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình trạng của chiếc xe.

Ngân hàng S yêu cầu về việc được kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nói trên để thu hồi toàn bộ số nợ khi ông Hoàng A1, bà H2 vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ, thì ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

2. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm:

Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị đơn ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn Ngân hàng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 184; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 149; Điều 223; Điều 280; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 323; Điều 351; Điều 357; Điều 385;Điều 400; Điều 401 ;Điều 429; Điều 466; Điều 468 - Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm d khoản 1.4 Điều 1 Mục II - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;

Xử:

I. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S) đối với ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2.

  1. Buộc ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ thanh toán cho S khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ký ngày 30/11/2017 và Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ khoản vay mua oto tiêu dùng seacar và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 29/11/2017, tạm tính đến ngày 03/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 2.154.591.919 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, một trăm năm mươi tư triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm mười chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.011.303.976 đồng; Nợ lãi trong hạn: 317.413.749 đồng; Nợ lãi quá hạn: 825.874.194 đồng. Cụ thể:
    • Đối với Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1733400037/HĐTD ngày 30/11/2017 là: 1.975.492.873 đồng ( Bằng chữ: Một tỷ, chín trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, tám trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 961.854.183 đồng; Nợ lãi trong hạn 317.413.749 đồng; Nợ lãi quá hạn: 696.224.941 đồng.
    • Đối với Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ khoản vay mua oto tiêu dùng seacar và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 29/11/2017 là: 179.099.046 đồng (Bằng chữ: Một trăm bảy mươi chín triệu, không trăm chín mươi chín nghìn, không trăm bốn mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc: 49.449.793 đồng ; Nợ lãi trong hạn: 0 đồng; Nợ lãi quá hạn: 129.649.253 đồng.
    Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H3 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên kể từ ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 04/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  2. Trường hợp ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Cụ thể TSBĐ là: 01 xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES BENZ, số loại C200; Số khung: RLMWF4CXXGV002698, số máy: 27492030747816, BKS: 30E – 990.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 410847 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 29/11/2017. Chi tiết về việc thế chấp tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1733400037/HĐTC ký ngày 30/11/2017.

    Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ, thì ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 75.092.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm triệu, không trăm chín mươi hai nghìn đồng).

    Ngân hàng S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 35.931.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số: 0006100 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt: Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S. Vắng mặt bị đơn: Ông Trần Hoàng A1, bà Nguyễn Thị H2. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSND Q.Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS Q Hoàn Kiếm;
  • - Cơ quan cấp ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DSST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 41/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng Đ và ông A, bà H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger