Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-PT

Ngày 03 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Bà Đinh Cẩm Đào

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 44/2025/TLPT-HNGĐ ngày 21/10/2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966, (có mặt)
  2. CCCD số: [...], cấp ngày 02/7/2021, nơi cấp: Bộ C.

    Địa chỉ: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Lê Huỳnh M, sinh ngày 15/11/2000; căn cước công dân: [...], cấp ngày 14/8/2021; nơi cấp: Bộ C.

    Địa chỉ: Số B, đường T, Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau.

  3. Bị đơn: Bà Lê Thị Trúc L, sinh ngày 01/01/1979, (có mặt)
  4. CCCD số: [...], cấp ngày 13/11/2023; nơi cấp: Bộ C

    Địa chỉ: Số B đường H, Khóm A, phường T (địa chỉ cũ: Khóm I, Phường F, thành phố C), tỉnh Cà Mau.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Ngân hàng N1 – Chi nhánh A, (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số A đường N, phường A, (địa chỉ cũ: Phường B, thành phố C) tỉnh Cà Mau.

  3. Ông Tô Quốc S, sinh năm 1982, (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau).

  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/7/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L thống nhất xác định:

Về quan hệ hôn nhân đã được giải quyết tại Bản án số 92/2021/HNST ngày 28/5/2021, khi giải quyết ly hôn vợ chồng thoả thuận tài sản chung vợ chồng tự thoả thuận, nhưng sau khi ly hôn vợ chồng không tự thoả thuận phân chia tài sản chung được, nên ông N khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn.

Về tài sản chung ông N, bà L thống nhất xác định trong thời gian chung sống vợ chồng tạo lập được các tài sản sau:

  • - Phần đất diện tích 932,2m² (đo đạc thực tế diện tích 861,6m²), tại thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là phường T, tỉnh Cà Mau, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên phần đất có căn nhà tiền chế, hiện nay do ông N đang quản lý, sử dụng.
  • - Phần đất diện tích 36m² (đo đạc thực tế diện tích 62,9m²), toạ lạc tại đường H, khóm I, phường F, thành phố C (nay là phường T), tỉnh Cà Mau, trên phần đất có căn nhà do bà L đang quản lý, sử dụng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm:

  • - Ông N thống nhất giá trị nhà, đất theo kết quả định giá của Công ty T2, ông N yêu cầu chia ½ tài sản bằng hiện trạng thực tế. Ông N yêu cầu chia cho ông phần đất tại phường T, tỉnh Cà Mau, ông đồng ý giao phần đất và căn nhà tại Khóm I, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau cho bà L quản lý và sử dụng; ông N đồng ý giao 05m đất ở và đất trồng cây lâu năm tại ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho bà L quản lý và sử dụng, bà L hoàn lại cho ông ½ giá trị căn nhà trên phần đất tại Khóm I, Phường F theo kết quả định giá
  • - Bà Lê Thị Trúc L thống nhất với yêu cầu của ông N, đồng ý nhận 01 phần đất và căn nhà tại khóm A, phường T và phần đất chiều ngang 05m tại ấp D, xã T (nay là Khóm H, phường T), đồng ý hoàn trả lại phần giá trị chênh lệch tài sản cho ông N.
  • - Về nợ chung: Ông bà thống nhất xác định, trong thời gian chung sống vợ chồng có vay của Ngân hàng N1 - Chi nhánh C1 (nay là chi nhánh A - Cà Mau) số tiền 380.000.000 đồng, đã trả được 100.000.000 đồng nên hiện nay còn nợ số tiền

3

280.000.000 đồng. Nay ông bà thống nhất thoả thuận bà L có trách nhiệm trả ½ khoản nợ Ngân hàng với số tiền là 190.000.000 đồng và tiền lãi còn nợ, đối với số tiền lãi ông N đã đóng thì đối trừ số tiền cá bống tượng và ½ số tiền lãi mà ông N đã đóng, bà xin rút lại yêu cầu ông N trả tiền cá bống tượng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N1 chi nhánh A trình bày ý kiến: Ông Nguyễn Văn N hiện tại đang còn nợ tại A1 chi nhánh A - Cà Mau với số tiền gốc là 280.000.000 đồng, số tiền lãi đến ngày 21/8/2025 là 3.544.110 đồng. Trường hợp Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau phán quyết tiến hành kê biên, xử lý tài sản thế chấp đối với ông N thì phải ưu tiên trả cho nợ cho Ngân hàng.

Từ nội dung trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 92/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau đã quyết định:

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N đối với bà Lê Thị Trúc L, cụ thể:

  1. Ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L có các tài sản chung gồm:
    • - 01 phần đất và tài sản gắn liền với đất diện tích được cấp là 932,2m² (theo đo đạc 861,6m²) thửa số 116, tờ bản đồ số 16 tại ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau nay là khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau và căn nhà tiền chế.
    • - 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 36m² (đo đạc thực tế 62,9m²) tại đường H, khóm I, phường F, thành phố C nay là khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau và trên phần đất có căn nhà.

    1.1. Giao cho ông Nguyễn Văn N được quyền sử dụng một phần phần đất là tài sản chung tọa lạc tại Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau với chiều ngang mặt tiền là 5m (vị trí từ M10 đến M11'), chiều ngang phần hậu đất là 5,35m (vị trí từ M12’M13 cộng M14M16); chiều dài cạnh 1 từ M10M17M16, chiều dài cạnh 2 từ M11’M12’M13M14 (vị trí phần đất giáp với phần đất do ông Nguyễn Văn N đứng tên từ việc nhận thừa kế)

    1.2. Bà Lê Thị Trúc L được quyền sử dụng phần đất ở và căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất, tọa lạc tại đường H, Khóm I, Phường F, thành phố C (nay là phường T), tỉnh Cà Mau.

    Ông Nguyễn Văn N phải giao cho bà Lê Thị Trúc L quyền sử dụng một phần phần đất là tài sản chung với chiều ngang mặt tiền và chiều ngang hậu đất là 5m, chiều dài cạnh 1 từ M11 đến M12 vị trí giáp phần đất Lê Bích T, chiều dài cạnh 2 từ M11’M12' vị trí giáp phần đất là tài sản chung ông Nguyễn Văn N được chia.

  2. Bà Lê Thị Trúc L có nghĩa vụ giao cho ông Nguyễn Văn N phần chênh lệch giá trị tài sản với số tiền là 382.962.000 đồng và giá trị ½ phần nhà trên phần đất bà L được nhận tại Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau với số tiền là 89.290.584 đồng.
  3. Về nợ chung:

4

  1. Bà Lê Thị Trúc L có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền vốn vay là 50.000.000 đồng.
  2. Ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N1 chi nhánh A mỗi người phải trả ½ khoản nợ với tiền số tiền vốn vay là 140.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 21/8/2025 là 1.772.055 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, xử lý tài sản thế chấp, quyền yêu cầu thi hành án, án phí chia tài sản chung, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 02/10/2025, ông Nguyễn Văn N kháng cáo yêu cầu chia và giao cho ông toàn bộ căn nhà và phần đất diện tích 861,6m², tại thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau, ông đồng ý thanh toán cho bà L ½ giá trị được chia theo quy định pháp luật; giao cho bà L được quyền quản lý, sử dụng căn nhà và phần đất 62,9m², tại đường H, Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau và buộc bà L phải hoàn lại cho ông ½ giá trị tài sản được chia theo chứng thư định giá. Tại phiên toà phúc thẩm ông N không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N phát biểu tranh luận: Tài sản chung và nợ chung trong quá trình tố tụng ông N và bà L thống nhất xác định. Tuy nhiên, để đảm bảo việc sử dụng đất thì nên xem xét chia phần đất diện tích 861,6m² cho cho một mình ông N quản lý để thuận tiện cho việc ông N sử dụng phần đất của ông N ở phía sau, hơn nữa trên phần đất ngang 05m chia cho bà L có 01 căn nhà tiền chế do ông N cất sẽ khó khăn trong việc thi hành án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N, sửa một phần Bản án sơ thẩm.

  • - Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông N, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau, án phí dân sự phúc thẩm ông N phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

5

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông N và bà L đã được giải quyết tại Bản án số 92/2021/HNGĐ-ST ngày 28/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã có hiệu lực pháp luật, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Xét phần đất tranh chấp diện tích 932,2m² (đo đạc thực tế diện tích 861,6m²), tại thửa 116, tờ bản đồ số 16, trên phần đất có căn nhà hiện do ông N đang quản lý, sử dụng và phần đất diện tích 36m² (đo đạc thực tế diện tích 62,9m², trên phần đất có căn nhà hiện do bà L quản lý, sử dụng. Trong quá trình tố tụng ông N, bà L thống nhất xác định nhà đất nêu trên tài sản chung do vợ chồng cùng tạo lập, nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không cần phải chứng minh.

[4] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 16/8/2024 thể hiện trên phần đất thửa 103, tờ bản đồ số 19 diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 36m², đo đạc thực tế diện tích 62,9m², có xây dựng một căn nhà có cấu trúc kết cấu móng bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền lót gạch 60cm x 60cm, mái lợp tol sóng vuông giả ngói, do bà L đang quản lý, sử dụng; Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 03/01/2024 thể hiện trên phần đất thửa 116, tờ bản đồ số 16 diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 932,2m², đo đạc thực tế diện tích 861,6m², có xây dựng một căn nhà có cấu trúc cột bê tông cốt thép, vách thiếc, kèo sắt, mái lợp tol, nền lót gạch tàu, hiện ông N đang quản lý, sử dụng.

[5] Xét kháng cáo của ông N yêu cầu chia cho ông toàn bộ phần đất đo đạc thực tế diện tích 861,6m² tại thửa 116, tờ bản đồ số 16, ông đồng ý hoàn lại phần giá trị chênh lệch cho bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm ông N, bà L thống nhất tài sản chung do vợ chồng tạo lập gồm căn nhà cất trên phần đất diện tích 932,2m², do ông N, bà L cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 889646 cấp ngày 27/3/2017 (đo đạc thực tế diện tích 861,6m²) hiện do ông N đang quản lý, sử dụng và căn nhà cất trên phần đất diện tích 36m², do ông N, bà L cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 280180 cấp ngày 09/8/2017 (đo đạc thực tế diện tích 62,9m²) hiện do bà L đang quản lý, sử dụng.

[5.1] Theo khoản 3 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn “3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch”, theo đó khi phân chia tài sản chung vợ chồng, cấp sơ thẩm đã xem xét đến các điều kiện, quá trình quản lý, sử dụng đất của các bên để phân chia, đảm bảo nguyên tắc mỗi người được chia bằng hiện vật, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Trong quá

6

trình tố tụng ông N cũng đồng ý chia cho bà L 01 phần đất ở thửa 116, tờ bản đồ số 16, đồng ý giao cho bà L tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 36m² trên phần đất có căn nhà hiện bà L đang quản lý làm nơi buôn bán tạp hoá tạo thu nhập ổn định cuộc sống. Do đó, cấp sơ thẩm chia và giao cho bà L phần đất diện tích 36m² và một phần đất tại thửa 116, tờ bản đồ số 16 toạ lạc tại Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[5.2] Xét giá trị các phần đất và các căn nhà có trên đất, căn cứ chứng thư thẩm định giá do Công ty cổ phần T2 thực hiện xác định giá trị căn nhà cất trên phần đất 36m² có giá 131.687.440 đồng và giá trị phần đất 36m² là 634.236.840 đồng, tổng giá trị nhà, đất bà L đang quản lý, sử dụng là 765.924.280 đồng; giá trị hai căn nhà trên phần đất thửa 116 ông N đang quản lý sử dụng là 178.581.168 đồng và phần giá trị đất 196.472.371 đồng, tổng giá trị nhà, đất ông N đang quản lý sử dụng là 375.053.539 đồng. Do đó, phần tài sản bà L được chia nhiều hơn nên bà L có trách nhiệm hoàn lại phần chênh lệch giá trị tài sản số tiền 472.252.584 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Do đó, cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N, cần giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau như đề nghị của Kiểm sát viên, không có căn cứ chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N.

[6] Đối với khoản vay của Ngân hàng N1 – Chi nhánh A, trong thời gian chung sống ông N, bà L thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 116, tờ bản đồ số 16 để vay số tiền 380.0000.000 đồng, ông N đã trả được 100.000.000 đồng vốn vay còn thiếu lại số tiền 280.000.000 đồng vốn vay và tiền lãi tính đến ngày 21/8/2025 số tiền 3.544.110 đồng, bà L đồng ý trả lại cho ông N số tiền 50.000.000 đồng, phần vốn vay còn lại 280.000.000 đồng và tiền lãi buộc bà L và ông N cùng có trách nhiệm mỗi người trả cho Ngân hàng 140.000.000 đồng vốn vay và 1.772.055 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên không xem xét giải quyết.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Cà Mau.

7

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 92, 273, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 33, 59, 62 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn đối với bà Lê Thị Trúc L.
  2. 1.1. Chia và giao cho bà Lê Thị Trúc L:

    • - Được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng căn nhà và phần đất diện tích 36m², tại thửa 103, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại đường H, Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau, (địa chỉ cũ: Khóm I, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 280180, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 09/8/2017.
    • - Được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng phần căn nhà cất trên phần đất chiều ngang trước 05m, chiều ngang sau 05m, chiều dài cạnh 1 số đo từ M11 đến M12, vị trí: Giáp phần đất bà Lê Bích T đang quản lý, sử dụng, chiều dài cạnh 2 số đo từ M11’M12', (vị trí: Giáp phần đất ông Nguyễn Văn N được chia), thuộc một phần thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ: xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 889646 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 27/3/2017.
    • - Buộc bà Lê Thị Trúc L có trách nhiệm hoàn trả phần chênh lệch giá trị tài sản cho ông Nguyễn Văn N số tiền 382.962.000 đồng (Ba trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng) và giá trị ½ căn nhà trên phần đất bà L được chia thuộc thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ: xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau) số tiền 89.290.584 đồng (T1 mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng).

    1.2. Chia và giao cho ông Nguyễn Văn N:

    • - Được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng phần căn nhà cất trên phần đất chiều ngang trước 05m số đo từ M10 đến M11', chiều ngang phần hậu đất 5,35m số đo từ M12’M13 + M14 M16; chiều dài cạnh 1 số đo từ M10 M16 M17, chiều dài cạnh 2 số đo từ M11' M12' M13 M14 (vị trí: phần đất giáp với phần đất do ông Nguyễn Văn N đứng tên từ việc nhận thừa kế), thuộc một phần thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ: xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 889646 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 27/3/2017.
    • - Được quyền quản lý, sử dụng số tiền chênh lệch giá trị tài sản do bà Lê Thị Trúc L hoàn trả 382.962.000 đồng (Ba trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng) và giá trị ½ căn nhà trên phần đất bà L được chia thuộc thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau số tiền 89.290.584

8

đồng (T1 mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng).

  • - Buộc Nguyễn Văn N có trách nhiệm giao cho bà Lê Thị Trúc L phần đất chiều ngang trước 05m, chiều ngang sau 05m, chiều dài cạnh 1 số đo từ M11 đến M12, vị trí: Giáp phần đất bà Lê Bích T đang quản lý, sử dụng, chiều dài cạnh 2 số đo từ M11’M12', vị trí: Giáp phần đất ông Nguyễn Văn N được chia, thuộc một phần thửa 116, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại: Khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ: xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 889646 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp ngày 27/3/2017.

Bản vẽ trích đo hiện trạng phần đất tranh chấp do Chi nhánh Công ty TNHH T3 tại Cà Mau lập ngày 15/01/2024 và ngày 18/9/2025, được kèm theo Bản án và là bộ phận không thể tách rời của Bản án.

  1. Ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để khai khai, đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất được chia theo quy định pháp luật.
  2. Về nợ chung:
  3. 3.1. Buộc bà Lê Thị Trúc L có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) vốn vay Ngân hàng mà ông Nguyễn Văn N đã trả cho Ngân hàng.

    3.2. Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L mỗi người có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh A số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) vốn vay và tiền lãi tính đến ngày 21/8/2025 số tiền 1.772.055 đồng (Một triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng).

    Từ ngày 22/8/2025 ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L còn phải tiếp tục chịu lãi với mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh A. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    3.3. Trường hợp, ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị Trúc L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N1 - Chi nhánh A có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm và tài sản khác trên tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký kết để thu hồi nợ cho ngân hàng.

  4. Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm và chi phí tố tụng:
  5. 4.1. Về án phí sơ thẩm:

    • - Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí chia tài sản chung số tiền 23.248.000 đồng (Hai mươi ba triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng) và án phí trả nợ Ngân hàng số tiền 7.088.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi tám nghìn

9

đồng), ông Nguyễn Văn N đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 27.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007552 ngày 06/11/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1, tỉnh Cà Mau) được đối trừ, ông Nguyễn Văn N phải nộp thêm số tiền là 3.336.000 đồng (Ba triệu, ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

  • - Bà Lê Thị Trúc L phải chịu án phí chia tài sản chung số tiền là 23.248.000 đồng (Hai mươi ba triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng) và án phí trả nợ chung là 7.088.000 đồng (Bảy triệu, không trăm tám mươi tám nghìn đồng).

4.2. Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Trúc L có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền 13.340.500 đồng (Mười ba triệu, ba trăm bốn mươi nghìn, năm trăm đồng).

4.3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), ông Nguyễn Văn N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000887 ngày 03/10/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà PT TANDTC tại Tp. HCM;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND Khu vực 1;
  • - Phòng THADS Khu vực 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-PT ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sau khi ly hôn ông N khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger