TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------
Bản án số: 41/2025/HSST
Ngày 20/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thành Long
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và bà Vũ Thị Liên.
- - Thư ký phiên tòa: ông Trần Ngọc Huy - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 05/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST - HS ngày 07/11/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L, sinh ngày 28/02/1988; nơi cư trú: Số nhà F, tổ A khu K, phường M, tỉnh Quảng Ninh; Số CCCD: [...]; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị Y (đã chết). Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/8/2023 Công an thị xã K, tỉnh Hải Dương quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi: Cố ý gây thương tích;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2025, chuyển tạm giam ngày 07/8/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại K thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1973. Trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người chứng kiến:
- + Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1972.
- + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992.
Đều trú tại: thôn Đ, xã T, tỉnh Hưng Yên (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma tuý nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, Nguyễn Đức L sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại số nhà F, tổ A, khu K, phường M, tỉnh Quảng Ninh, hiện đang trú tại thôn Đ, xã H, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe mô tô biển số 20H9 – 9774 đi từ nơi ở đến xã T, tỉnh Hưng Yên để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã T, L nhìn thấy 01 người đàn ông lạ mặt có biểu hiện giống người nghiện ma tuý nên lại gần và hỏi: “ anh có ma tuý bán không” thì người này trả lời “ có”. Sau khi nhận số tiền 300.000 đồng của L đưa, người đàn ông đưa cho L 01 túi nilon, viền túi màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và một viên nén màu đỏ. Tin tưởng túi nilon chứa ma tuý nên L cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về thì bị Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ của L: 01 túi nilon kích thước khoảng (2x2,5) cm, có viền màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và một viên nén màu đỏ, được ký hiệu lần lượt là M1, M2; 01 xe mô tô biển số 20H9 - 9774.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức L nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Bản Kết luận giám định số 729 ngày 03/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
- - Chất dạng tinh thể màu trắng được ghi ký hiệu M1, trong niêm phong, có khối lượng là 0,198g, ma túy, loại Methamphetamine.
- - Chất dạng viên nén màu đỏ được ghi ký hiệu M2, trong niêm phong, có khối lượng là 0,102g ma túy, loại Methamphetamine. H1 lại sau giám định gồm: 0,261 gam Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 729/KL- KTHS.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như nêu trên, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 20H9 – 8774 có đăng ký mang tên chị Lê Thị Thúy H2 sinh năm 1981 ở phường G, tỉnh Thái Nguyên. Chị H2 đã bán chiếc xe trên cho anh Lê Văn C sinh năm 1973 ở xã T, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 02/8/2025, anh C là bạn làm cùng công ty cho L mượn xe nhưng không biết L sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma tuý.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng Phân trại tạm giam K- Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh H chiếc xe trên cùng với 01 phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định, bên trong chứa 0,261 gam Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì. Bút lục số: 54.
Quá trình điều tra xác định trước ngày bị bắt, L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, L không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, nên không có căn cứ xem xét xử lý. Đối với người bán ma tuý cho L nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.
Cáo trạng số 16/CT - VKSKV3 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/8/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý hoàn lại sau giám định bên trong có chứa 0,261 gam Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì. Trả lại cho ông Lê Văn C 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20 H9 - 8774.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, Bản kết luận giám định số 729/KL - KTHS(MT) ngày 03/8/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: - Chất dạng tinh thể màu trắng được ghi ký hiệu M1, trong niêm phong, có khối lượng là 0,198g, ma túy, loại Methamphetamine; Chất dạng viên nén màu đỏ được ghi ký hiệu M2, trong niêm phong, có khối lượng là 0,102g ma túy, loại Methamphetamine và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 02/8/2025, tại khu vực thôn Đ, xã T, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Đức L đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,3 gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức L như nêu trên đã có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức L, do L không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, nên không có căn cứ xem xét xử lý. Đối với người bán ma tuý cho L nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên nhận thức rất rõ việc sử dụng ma túy sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời để làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 18/8/2023 Công an xã K, tỉnh Hải Dương quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích;
[6] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý hoàn lại sau giám định bên trong có chứa 0,261 gam Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì là vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20 H9 - 8774 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn C, ông C không biết việc bị cáo L sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma tuý đồng thời không có căn cứ chứng minh chiếc xe mô tô hày do liên quan đến tội phạm hay do phạm tội mà có, do đó sẽ trả lại chiếc xe mô tô này cho ông Lê Văn C.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/8/2025.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý hoàn lại sau giám định bên trong có chứa 0,261 gam Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì.
Trả lai cho ông Lê Văn C 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20 H9 – 8774.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA);
- - VKSND Khu vực 3 - Hưng Yên.
- - Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên;
- - Phòng nghiệp vụ hồ sơ - Công an tỉnh Hưng Yên;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thành Long
Bản án số 41/2025/HSST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 41/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
