|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HSST
Ngày: 17/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tạo.
Bà Phạm Thị Quyên..
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình- Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa:Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 28/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên:Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; nơi sinh: Hà Nội;ĐKNKTT: SỐ I H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không;Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; Vợ: Vũ Thị Thúy H2- sinh năm 1996, con: có hai con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:Ngày 26/01/2018, TAND quận Tây Hồ xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2018. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/01/2018, nộp án phí dân sự sơ thẩm ngày 27/8/2024.
D chỉ bản số 609 lập ngày 03/01/2025; Bị cáo đầu thú ngày 30/12/2024;Bị tạm giữ ngày 30/12/2024.Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
1/ Anh Hoàng Duy Đ, sinh ngày 21/10/2005. HKTT: Trần Thánh T, C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ở hiện tại: P302 số D ngõ B, đường C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
2/ Anh Đoàn Văn K, sinh ngày 16/3/2005. HKTT: Xóm A, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi ở hiện tại: P302 số D ngõ B, đường C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
(Các bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công ăn việc làm, Nguyễn Văn H3 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 03h00' ngày 30/12/2024, Nguyễn Văn H đến trước số nhà D ngõ B Cầu G, D, Cầu G, Hà Nội, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva màu xanh BKS: 35AK – 051.47 và xe mô tô Honda Wave màu đen BKS: 12P1 – 266.60 đang dựng ở ngõ, không có người trông. H tiến tới bên trái chiếc xe mô tô BKS: 35AK – 051.47 thấy xe không khóa cổ, khóa càng nên đã dắt xe đi ra đầu ngõ B đường C. Lúc này, H lấy trong túi quần bên trái chiếc chìa khóa xe máy (do H nhặt được trước đó) tra vào ổ khóa và mở được xe. H điều khiển xe đi đến đầu ngõ B D và để xe tại đó rồi quay lại đến trước số nhà D ngõ B đường C tiếp tục lấy chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 12P1 – 266.60. H phát hiện chiếc xe đã khóa cổ nên dùng tay trái nắm vào phần đuôi xe, dùng chân phải đạp mạnh vào phần tay ga để phá khóa. Sau đó, H dắt xe về đầu ngõđầu ngõ 29 Dịch Vọng để tìm thợ đấu điện mở khóa xe.H lên mạng tìm kiếm và liên hệ với người sử dụng tài khoản Zalo “SOS Giao Thông”nhờ đến ngõ B D để mở khóa xe. Đến khoảng 03h20' cùng ngày, Nguyễn Quang M (sinh năm 1995; HKTT: T, V, Thái Nguyên) và Phạm Văn T1 (sinh năm 1993; HKTT: H, M, Hà Nội) đến sửa khóa xe cho H. Sau khi sửa xong, anh M yêu cầu H đưa Căn cước công dân, Giấy tờ xe để kiểm tra nguồn gốc chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 12P1 – 266.60 nhưng H không cung cấp được. Nhận thấy H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến việc trộm cắp tài sản, anh M đã gọi điện cho Công an phường D đến đưa H cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Cơ quan Công an đã thu giữ của H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva BKS: 35AK-051.47; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 12P1-266.60; 01 chìa khóa xe máy; 01 kìm bằng kim loại; 01 điện thoại di động hiệu Huawei 3i màu xanh gắn số sim 0588.140.987.
Tại Kết luận định giá tài sản số 465 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva BKS: 35AK-051.47 đã qua sử dụng từ tháng 07/2020 giá trị 6.325.000 đồng;
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 12P1-266.60 đã qua sử dụng từ tháng 09/2020 giá trị 12.742.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 19.067.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva BKS: 35AK-051.47, quá trình điều tra xác định: Chủ sở hữu là anh Đoàn Văn K (Sinh năm: 2005; HKTT: L, K, Ninh Bình). Ngày 05/02/2025, Cơ quan điều tra đã trao trả xe mô tô cho anh K. Anh Khoa đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 12P1-266.60, quá trình điều tra xác định: Chủ sở hữu là chị Hoàng Hồng D1 (Sinh năm: 1980; HKTT: Trần Thánh T, C, Lạng Sơn). Đầu năm 2024, chị D1 cho con trai là Hoàng Duy Đ (Sinh năm: 2005; HKTT: Trần Thánh T, C, Lạng Sơn) sử dụng làm phương tiện đi học, chị D1 đề nghị Cơ quan Công an trả xe cho anh Đ. Ngày 05/02/2025, Cơ quan điều tra đã trao trả xe cho anh Đ. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1Điều 173Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy thực hành quyền công tố luận tội đối với bị cáo: giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H từ 18- 24 tháng tù.Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp.
Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa, bị hại là anh Hoàng Duy Đ yêu cầu bị cáo bồi thường tiền sửa xe là 1.360.000 đồng. Bị cáo nhất trí với yêu cầu của anh Đ và hứa sẽ bồi thường cho anh Đ nên đề nghị HĐXX, buộc bị cáo bồi thường cho anh Đ số tiền trên.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46, 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Huawei 3i màu xanh thu giữ của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe máy, 01 kìm bằng kim loại.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xác định có tội, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng trình tự, quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội, hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn H đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, vật chứng thu thập được, Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 03h00' ngày 30/12/2025, tại khu vực trước số nhà D ngõ B Cầu G, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva BKS: 35AK-051.47 của anh Đoàn Văn K (trị giá 6.325.000 đồng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 12P1-266.60 của anh Hoàng Duy Đ (trị giá 12.742.000 đồng). Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 19.067.000 đồng. Tang vật đã được thu hồi và trao trả cho người bị hại.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an và gây bất bình trong quần chúng nhân dân, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có nhân thân xấu:bị cáo đã từng bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đầu thú.Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trao trả cho người bị hại.Tại giai đoạn điều tra các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Trước khi mở phiên tòa, bị hại là anh Hoàng Duy Đ yêu cầu bị cáo bồi thường tiền sửa xe là 1.360.000 đồng. Bị cáo nhất trí với yêu cầu của anh Đ và hứa sẽ bồi thường cho anh Đ. HĐXX xét thấy đề nghị của anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị cáo bồi thường cho anh Đ số tiền trên.
[6] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng là 01 chìa khóa xe máy, 01 kìm bằng kim loạithu giữ của bị cáo cần tịch thu, tiêu hủy vì liên quan đến hành vi phạm tội.01 điện thoại di động kiểu dáng Huawei 3i màu xanh thu giữ của bị cáo là công cụ, bị cáo dùng để liên lạc gọi người sửa xe cho bị cáo nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp với quy định tại 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
[7] Về án phí: Bị cáo Hùngphải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51;Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Nguyễn Văn H4 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.
2. Về vật chứng:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu hủy hủy 01(một) chìa khóa xe máy; 01 (một) kìm bằng kim loạithu giữ của bị cáo.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động kiểu dáng Huawei 3i màu xanh thu giữ của bị cáo.
(Các vật chứng trên được mô tả chi tiết và hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 và ngày 20/3/202giữa Công an quận C, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội).
3. Án phí:Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụngNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 VND (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 VND (ba trăm nghì đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa
Nguyễn Anh Huy
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện kiểm sát ND quận Cầu Giấy;
- - Viện kiểm sát ND thành phố Hà Nội;
- - Công an quận Cầu Giấy;
- - Công an quận TP Hà Nội;
- - Chi cục Thi hành án quận Cầu Giấy;
- - Bị cáo; bị hại
- - Lưu.
Bản án số 41/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 41/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 41/2025/HSST
