Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 30/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà - Giáo viên trường THPT Ba Đình Nga Sơn; Bà Mai Thị Bình - Công chức văn phong HĐND, UBND xã Nga Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Quy – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST - HS ngày 10/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST - HS ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 11/4/2001. Số CCCD: [...]. Quê quán: xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (Đã chết). Con bà: Đinh Thị H1, sinh năm 1979; trú tại thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: 02 tiền án.

- Tại Bản án số 78/2022/HSST ngày 18/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 20/2023/HSST ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với 09 tháng tù đã cho hưởng án treo tại Bản án số 78/2022/HSST ngày 18/8/2022, buộc Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/11/2024.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 21/2025/HSST ngày 27/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. (Chưa chấp hành)

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Phan Văn C, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Nguyễn Văn H2, sinh ngày 25/9/2009.

Người đại diện hợp pháp: Chị Mai Thị D, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bà Trần Thị H3, sinh năm 1958. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

*Người làm chứng: Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H (sinh năm 2001, trú tại thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa) là người mới bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù của các bản án về tội xâm phạm sở hữu, ngày 30/11/2024, H trở về địa phương sinh sống. Do bản thân không có việc làm và thu nhập ổn định nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Thực hiện ý định của mình, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/9/2025, Nguyễn Văn H rủ Nguyễn Văn H2 (sinh ngày 25/9/2009 - Học là em họ, nhà bên cạnh nhà H) đi tìm và trộm cắp xe đạp của người dân để bán lấy tiền, H2 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe máy nhãn hiệu SUPERSIVA, BKS: 36F3 - 0376, chở theo Nguyễn Văn H2 đi từ thôn G, xã N ra phía bờ sông xã L, tỉnh Ninh Bình lên Quốc lộ A và đi về hướng xã N. Khi đi qua khu vực trường mầm non N, thuộc địa phận thôn V, xã N, tỉnh Thanh Hóa, H và H2 phát hiện có 01 chiếc xe đạp màu xanh, giỏ màu trắng đang dựng cách cổng trường khoảng 5 - 6m. Chiếc xe này là của anh Phan Văn C (sinh năm 1976, trú tại thôn V, xã N - bảo vệ trường mầm non N). Sáng ngày 20/9/2025, lúc này chưa có ai đến vì là ngày nghỉ (thứ 7), anh C đến dựng xe ở bên ngoài, mở cổng vào bên trong quét dọn vệ sinh. Quan sát xung quanh không thấy có người qua lại và không có ai trông coi nên H dừng xe, H2 xuống đi bộ tiến lại gần rồi lén lút dắt chiếc xe đạp ra để lên yên xe máy rồi ngồi sau giữ xe đạp. H nhanh chóng điều khiển xe máy chở theo H2 và chiếc xe đạp đi về hướng nghĩa trang gần đền T2. Khi đến đoạn đường vắng người qua lại, H dừng xe để H2 dùng đá đập cho chiếc xe đạp bị hư hỏng, móp méo, biến dạng (mục đích để dễ bán sắt vụn). Sau đó cả hai tiếp tục lên xe máy chở theo chiếc xe đạp đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến khu vực thôn A, xã N thì H và H2 gặp bà Trần Thị H3 (sinh năm 1958, trú tại thôn N, xã N) đang đi thu mua sắt vụn. Cả hai thỏa thuận bán chiếc xe đạp vừa trộm cắp được cho bà H3 với giá 90.000đ. Sau khi nhận tiền, H và H2 chia nhau mỗi người 45.000₫ rồi cả hai đi về nhà.

Sau khi phát hiện chiếc xe đạp của mình đã bị kẻ gian trộm cắp, anh Phan Văn C đã đến trụ sở Công an xã N trình báo sự việc. Quá trình kiểm tra xác minh sơ bộ ban đầu theo quy định của pháp luật, Công an xã N đã xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp là Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2. Từ nội dung khai báo của H và H2, lực lượng Công an đã làm việc với bà Trần Thị H3. Biết được chiếc xe đạp mình đã mua lại là tài sản trộm cắp, ngày 22/9/2025, bà H3 đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã N để phục vụ cho quá trình điều tra, giải quyết vụ việc. Ngày 22/10/2025, Nguyễn Văn H cũng đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUPERSIVA, BKS: 36F3 - 0376 bản thân đã sử dụng làm phương tiện phục vụ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản - UBND xã N kết luận: 01 xe đạp sơn màu xanh, giỏ màu trắng, trên thân xe có dòng chữ KASAWA, đã qua sử dụng có giá trị là 170.000đ (một trăm bảy mươi nghìn đồng).

Về phía Nguyễn Văn H2, thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 20/9/2025, H2 mới 15 tuổi 11 tháng 26 ngày (chưa đủ 16 tuổi); H2 là người có nhân thân tốt, tài sản trộm cắp có giá trị 170.000₫ (dưới 2.000.000₫) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Do đó, không xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” đối với Nguyễn Văn H. Ngày 10/11/2025, Công an xã N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (hình thức “Cảnh cáo”) đối với Nguyễn Văn H2.

Đối với bà Trần Thị H3, làm nghề buôn bán phế liệu - người đã mua lại chiếc xe đạp từ H và H2 vào ngày 20/9/2025: Do thấy chiếc xe đạp đã bị hư hỏng, biến dạng. Bà H3 không biết chiếc xe là tài sản do H và H2 đã phạm tội mà có. Sau khi biết được thông tin vụ việc, bà H3 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe để phục vụ công tác điều tra, giải quyết vụ án. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xem xét xử lý đối với bà Trần Thị H3. H và và H2 đã trả lại số tiền 90.000đ cho bà H3.

Sau khi phục vụ quá trình điều tra, giải quyết vụ án xong, ngày 18/11/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại 01 (một) chiếc xe đạp đã qua sử dụng bị hư hỏng cho anh Phan Văn C. Anh C không yêu cầu H và H2 bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy nhãn hiệu SUPERSIVA, BKS: 36F3 - 0376 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Đinh Thị H1 - mẹ đẻ Nguyễn Văn H). Ngày 20/9/2025, H đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, bà H1 không hay biết nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại chiếc xe máy cho bà Đinh Thị H1.

01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu trắng bằng kim loại, dung lượng 1GB, bên trong có chứa 01 file video dung lượng 2.511MB trích xuất từ camera an ninh của gia đình ông Nguyễn Văn T1 được lưu và chuyển theo hồ sơ vụ án.

*Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa giữ nguyên quan điểm buộc tội đối với bị cáo theo tội danh, điều khoản đã nêu trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

- Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp với 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án số 21/2025/HSST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, đến 04 (Bốn) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2025;

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX miễn xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/9/2025, tại khu vực trước cổng trường mầm non N, thuộc địa phận thôn V, xã N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H2 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) chiếc xe đạp sơn màu xanh, giỏ màu trắng, trên thân xe có dòng chữ “KASAWA”, đã qua sử dụng có giá trị 170.000đ (một trăm bảy mươi nghìn đồng) của anh Phan Văn C (là bảo vệ trường mầm non N) để mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 20/9/2025, Nguyễn Văn H2 mới 15 tuổi 11 tháng 26 ngày (chưa đủ 16 tuổi); H2 là người có nhân thân tốt, tài sản trộm cắp có giá trị 170.000₫ (dưới 2.000.000₫) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Nguyễn Văn H là người có nhân thân xấu, mặc dù giá trị tài sản trộm cắp không lớn (dưới 2.000.000₫) nhưng H đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 173 BLHS.

Như vậy, Cáo trạng số 15/CT - VKS, ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ của vụ án: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tài sản hợp pháp của công dân, được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, làm bài học giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung

[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần vào các năm 2022, 2023 và năm 2025.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần, nhưng không chịu sửa chữa để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà thường xuyên vi phạm pháp luật, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội sau này.

Tại bản án số 21/2025/HSST ngày 27/9/2025, của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” sau đó bị cáo H kháng cáo, ngày 15/12/2025 bị cáo H rút kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 104/2025/HSPT. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX miễn xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

*Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù; Tổng hợp với 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án số 21/2025/HSST ngày 27/9/2025, của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2025;

*Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo bản án thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Chuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger