TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 27 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân, ông Trần Ngọc Toàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh ngày 15-5-1959 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có 02 vợ, vợ thứ nhất (đã ly hôn), vợ thứ hai tên Nguyễn Thị Thu T1, có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1996.
Nhân thân: Ngày 31-3-2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Chứa mãi dâm”, đến ngày 01-9-2000 chấp hành xong bản án.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18-12-2024 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ: Bà Lê Hồ Bích H1, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; có mặt.
Bị hại: Ông Dương Hồng P, sinh năm 1988, địa chỉ: số A đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Minh T2, sinh năm 1987, địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1986, địa chỉ: số A đường P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Bảo N, sinh năm 1990, địa chỉ: số B, Hồ Tùng M, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt.
Người làm chứng: Phạm Thanh T3, sinh năm 1999; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13-12-2024, Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 67N9-8994 đến cửa hàng Smart Phone Long X của anh Dương Hồng P thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để mua điện thoại. Sau khi Đ mua điện thoại nhãn hiệu Vivo với giá 1.300.000 đồng và ngồi tại cửa hàng chờ sạc pin điện thoại, Đ thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng và 01 bộ tai nghe Apple Airpods P1 (01 hộp + 02 tai nghe), màu trắng để trên bàn kính quầy điện thoại, không ai trông giữ nên Đ lấy trộm điện thoại và bộ T4 nghe để vào túi nilon và ngồi tại cửa hàng nói chuyện với anh P. Khoảng 15 phút sau, điện thoại Đ mua sạc đầy pin, anh P đưa điện thoại cho Đ, Đ nhận điện thoại vừa mua và cầm túi nilon cất giấu điện thoại và bộ T4 nghe vừa lấy trộm tại cửa hàng đi về nhà. Ngày 14-12-2024, Đ đến Công an phường M đầu thú, khai nhận hành vi lấy trộm tài sản nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng; 01 bộ tai nghe Apple Airpods Pro màu trắng; 01 xe mô tô loại Honda Click, màu đen, biển số 67N9-8994; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ chấm bông màu xanh; 01 quần dài màu đen; 01 nón bảo hiểm màu nâu (bút lục số 13-14).
Tại Kết luận định giá tài sản số 2552/KL-HĐĐGTS ngày 16-12-2024 của Hội đồng Định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L xác định: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 2.000.000 đồng; 01 bộ tai nghe Apple Airpods P1 (01 hộp + 02 tai nghe) màu trắng, trị giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.000.000 đồng (bút lục số 18).
Tại Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 15-02-2025 của Phòng K Công an tỉnh A xác định: xe mô tô biển số 67N9-8994 gửi giám định có số khung, số máy không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy xóa, hoen gỉ (bút lục số 47).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Hồng P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ (bút lục số 99-101).
Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKSLX ngày 05 tháng 3 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bà Phạm Thị Bảo N, bà Phạm Thanh T3 khai nhận phù hợp nội dung vụ án; bà N yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67N9-8994.
Bị hại Dương Hồng P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Minh T2, Nguyễn Thành D vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị giao trả cho bà N 01 xe mô tô biển số 67N9-8994; tịch thu, tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ chấm bông màu xanh, 01 quần dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu nâu.
Người bào chữa của bị cáo Phạm Văn Đ đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm cho bị cáo Đ tình tiết nhất thời phạm tội, quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương; đề nghị xử phạt bị cáo Đ theo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo Đ thống nhất với luận cứ bào chữa, không bào chữa và tranh luận gì thêm, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên toà, bị hại Dương Hồng P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Minh T2, Nguyễn Thành D vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13-12-2024, tại cửa hàng S của anh Dương Hồng P thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Phạm Văn Đ đã hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70, 01 bộ T4 của anh P với tổng giá trị tài sản là 5.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tài sản tiêu xài mà không phải lao động bỏ tiền ra mua nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác, được tặng nhiều giấy khen; là bộ đội, thương binh loại A hạng 4/4; đầu thú khai nhận hành vi phạm tội; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi, giao trả lại cho bị hại và bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểms, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật, quy định của địa phương, không phạm tội hoặc vi phạm nào khác; bên cạnh đó, bị cáo là người cao tuổi (trên 60 tuổi), nhất thời phạm tội và đã tự nguyện giao nộp lại tài sản chiếm đoạt. Điều này thể hiện, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được cải tạo, giáo dục, chấp hành án dưới sự giám sát, giáo dục tại địa phương là điều kiện để bị cáo tiếp tục lao động tạo thu nhập, chăm sóc gia đình, người thân và là cơ hội để bị cáo tự tu dưỡng, rèn luyện chấp hành pháp luật, phù hợp chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu trắng và 01 bộ tai nghe Apple Airpods Pro màu trắng, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.
Đối với xe mô tô loại Honda Click, biển số 67N9-8994 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của bà Phạm Thị Bảo N đưa cho bị cáo sử dụng làm phương tiện đưa rước cháu, việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội bà N không biết, không có lỗi và có yêu cầu được nhận lại xe mô tô nên cần giao trả xe mô tô biển số 67N9-8994 lại cho bà N.
Đối với 01 áo sơ mi ngắn tay, 01 quần dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu nâu là trang phục bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách đối với bị cáo Phạm Văn Đ là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu đỏ chấm bông màu xanh; 01 (một) quần dài màu đen và 01 (một) nón bảo hiểm màu nâu.
Giao trả cho bà Phạm Thị Bảo N: 01 (một) xe mô tô loại Honda Click, màu đen, biển số 67N9-8994.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bà Phạm Thị Bảo N có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Dương Hồng P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Minh T2, Nguyễn Thành D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Phạm Văn Đức - TCTS