|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Đạt;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan – Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 03 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/HSST ngày 07 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn A; giới tính: Nam; sinh năm 1989 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; con ông Phạm Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1968; Có vợ là Sơn Thị Thúy L, sinh năm 1991; Có 04 người con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 61/2012/HSST ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt Phạm Văn A 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 15/6/2012.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 31/7/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đoàn Vũ B, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Địa chỉ cư trú: Số G P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Lê Phước G, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Đinh Văn T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 05 giờ ngày 18/7/2024, anh Đoàn Vũ B để một ba lô màu đen trên quầy lễ tân của khách sạn G1 tại địa chỉ số G P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bên trong ba lô có 01 laptop hiệu Huawei Matebook D15. Đến 05 giờ 23 phút cùng ngày, Phạm Văn A vào quầy lễ tân lấy trộm chiếc ba lô của anh B. Sau khi trộm được tài sản, A gọi điện thoại nhờ một người tên M (chưa rõ lai lịch) nhờ bán tài sản trộm cắp được, được 1.500.000 đồng. M đưa cho A 500.000 đồng, số tiền trên Ai đã tiêu xài cá nhân hết. Bị mất tài sản anh B đến công an phường T trình báo sự việc.
Ngày 24/7/2024, tổ tuần tra công an phường kết hợp bảo vệ P tuần tra phát hiện Phạm Văn A đang điều khiển xe máy Yamaha Nouvo biển số 68N1-062.22 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở công an phường làm rõ, xử lý. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q, Phạm Văn A khai nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G2, kết luận: “01 laptop hiệu Huawei Matebook D15, Ryzen 5 3500 U, Ram H, SSD 256Gb có giá trị 4.166.000 đồng; 01 ba lô màu đen đựng laptop có giá trị 226.000 đồng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Phạm Văn A đã khai nhận do thấy ba lô màu đen trên quầy lễ tân của khách sạn G1 của anh Đoàn Vũ B, không có người xung quanh, bị cáo nảy sinh lòng tham, lén lút chiếm đoạt mang bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân.
Vật chứng vụ án:
- 01 áo thun màu tím, 01 đôi dép màu trắng là trang phục Ai mặc khi đi trộm cắp.
- 01 điện thoại di động nokia màu xanh, thuê bao số 0964814611.
- 01 xe máy hiệu Yamaha nouvo màu xanh biển số 68N1-062.22. Qua xác minh xe do anh Lê Phước G đứng tên chủ sử hữu, A G bán xe lại cho Anh Đinh Văn T. Anh T mua xe của anh G nhưng không làm thủ tục sang tên. Đến tháng 01/2024 anh T bán xe lại cho cửa hàng xe máy cũ. Phạm Văn A mua xe từ cửa hàng xe máy cũ nhưng không nhớ cửa hàng và địa chỉ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đoàn Vũ B yêu cầu Phạm Văn A bồi thường số tiền 8.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 177/CT-VKSQ7 ngày 18/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Phạm Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận bản thân không có việc làm, kinh tế khó khăn, thấy ba lô màu đen của anh Đoàn Vũ B để trên quầy lễ tân của khách sạn G1 và không có ai trông coi, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt mang đi bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đoàn Vũ B yêu cầu Phạm Văn A bồi thường số tiền 8.000.000 đồng. Tại Phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại theo Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G2 với số tiền 4.392.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét, Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G2 có đủ cơ sở để kết luận:
Bị cáo Phạm Văn A thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Đoàn Vũ B. Hành vi của bị cáo Phạm Văn A đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý; Hành vi phạm tội của bị cáo do tham lam tư lợi, đã lén lút trộm tài sản của ông B xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- 01 áo thun màu tím, 01 đôi dép màu trắng là trang phục bị cáo A mặc khi đi trộm cắp. Bị cáo không có yêu cầu nhận lại, xét không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nokia màu xanh, thuê bao số 0964814611 bị cáo Phạm Văn A khai sử dụng để liên lạc với M nhờ bán tài sản trộm cắp, xét đây là công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
- 01 xe máy hiệu Yamaha nouvo màu xanh biển số 68N1-062.22. Qua xác minh xe do anh Lê Phước G đứng tên chủ sử hữu, A G bán xe lại cho Anh Đinh Văn T. Anh T mua xe của anh G nhưng không làm thủ tục sang tên. Đến tháng 01/2024 anh T bán xe lại cho cửa hàng xe máy cũ. Phạm Văn A mua xe từ cửa hàng xe máy cũ nhưng không nhớ cửa hàng và địa chỉ. Anh G khai nhận đã bán và nhận tiền nên không yêu cầu nhận lại xe, tại phiên Tòa hôm nay vắng mặt và không có ý kiến, anh T khai đã bán xe và nhận tiền nên không yêu cầu nhận lại xe, tại phiên Tòa hôm nay vắng mặt và không có ý kiến,
Xét thấy cần đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đoàn Vũ B yêu cầu bị cáo Phạm Văn A bồi thường số tiền 8.000.000 đồng.
Căn cứ theo Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G2, kết luận: “01 laptop hiệu Huawei Matebook D15, Ryzen 5 3500 U, Ram H, SSD 256Gb có giá trị 4.166.000 đồng; 01 ba lô màu đen đựng laptop có giá trị 226.000 đồng”. Đối với yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, bị hại ông Phạm Văn A không có hóa đơn, chứng từ chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có cơ sở để chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại giá trị tài sản theo Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G2 là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Đối với M là người giúp bị cáo bán tài sản phạm tội, hiện chưa điều tra được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra khi phát hiện sẽ xử lý sau.
[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn A 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
2. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun màu tím, 01 đôi dép màu trắng;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nokia màu xanh, thuê bao số 0964814611 (đã qua sử dụng, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy);
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 xe máy hiệu Yamaha nouvo màu xanh biển số 68N1-062.22 trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, trường hợp tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về dân sự: Bị cáo Phạm Văn A bồi thường cho bị hại ông Đoàn Vũ B số tiền 4.392.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn) đồng.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 027 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7).
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
|
Trương Như T1 |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 09 tháng tù
