|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 27/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- - Ông Trần Văn Chon.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 364/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 22/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 364/2025/HSST-QĐ ngày 12/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/HSST-QĐ ngày 19/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1962 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú và chỗ ở: Số D Đường số A, ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (Đã chết) và bà Tô Thị D (Đã chết); có chồng và 01 con sinh năm 1998; Tiền án: không; tiền sự: Ngày 11/12/2023 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi Mua các số lô, số đề, đã đóng tiền phạt ngày 29/01/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/9/2024 (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Giang T1, sinh năm 1973 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1967 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: D Đường số A, ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: I Đường số A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bà Lê Thị P, sinh năm 1962 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: H Đường số A, ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T có quen biết với Hồ Giang T1 từ năm 2023 do ở gần nhà, T1 thường xuyên đến quán của T tại số D Đường số A, Ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để uống cà phê. Từ tháng 7/2024, Nguyễn Thị T bán số lô, số đề cho các con bạc rồi tổng hợp giao phơi đề cho T1 để hưởng tiền hoa hồng, thỏa thuận cứ 1.000.000 đồng T được 50.000 đồng. Sau khi có kết quả thắng thua thì ngày hôm sau T1 sẽ đến gặp T để chung chỉ. Ngày 31/7/2024, T ở tại quán và bán số lô, số đề cho các con bạc, cụ thể Nguyễn Văn T2 mua số “43, 83 đá 1.000 đồng” đài Đồng Nai và Cần Thơ với tổng số tiền là 72.000 đồng, Nguyễn Thị H mua số “34 bao lô 10.000 đồng, 434 bao lô 5.000 đồng” đài Đồng Nai và Cần Thơ với tổng số tiền là 530.000 đồng, Lê Thị P mua số “86 bao lô 2.000 đồng, 986 bao lô 3.000 đồng” đài Đồng Nai và Cần Thơ với tổng số tiền là 174.000 đồng. Riêng các con bạc khác là người lạ mặt nên T thu tiền trực tiếp, tổng số tiền 1.718.000 đồng. T chỉ bán số lô, số đề cho con bạc đến mua trực tiếp, không bán qua tin nhắn điện thoại di động. Sau đó, T tổng hợp phơi đề bán được trong ngày ra 02 tờ giấy để giao cho T1 01 tờ và Thu giữ lại 01 tờ đối chiếu chung, chi. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, Công an huyện C kiểm tra tại địa chỉ số D Đường số A, Ấp F, xã T, huyện C thì phát hiện trên người T và T1 mỗi người có 01 tờ phơi đề đài Đồng Nai và Cần Thơ ngày 31/7/2024 nên tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc.
Trước đây, T có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà tiếp tục vi phạm về hành vi này nên lần phạm tội này là tình tiết định tội.
Tổng số tiền mà Nguyễn Thị T bán số lô, số đề dựa trên kết quả xố số của 02 đài Đồng Nai và Cần Thơ ngày 31/07/2024 là 2.494.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 phơi đề đài Cần Thơ và Đồng Nai ngày 31/7/2024.
- Tiền 1.740.000 đồng (740.000 đồng của T và 1.000.000 đồng của T1, tiền đánh bạc).
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập Kho vật chứng thuộc tài khoản tạm giữ của Công an huyện C.
Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS.CC ngày 26 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên và thừa nhận số tiền thu lợi từ việc bán số lô, số đề là 700.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội “Đánh bạc”.
Xử lý vật chứng: Đối với 02 tờ giấy phơi đề ngày 31/7/2024 lưu vào hồ sơ vụ án; các số tiền thu của T 740.000 đồng, thu của T1 1.000.000 đồng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước, buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 700.000 đồng.
Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định.
[2] Bị cáo Nguyễn Thị T có hành vi mua bán số lô, số đề vào ngày 31/7/2024 tại địa chỉ số D Đường số A, ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể: bán cho Nguyễn Văn T2 số tiền 72.000 đồng, Nguyễn Thị H số tiền 530.000 đồng, Lê Thị P số tiền là 174.000 đồng và các con bạc khác (chưa rõ lai lịch) số tiền 1.718.000 đồng bằng hình thức ghi trực tiếp trên tờ phơi, tổng cộng số tiền mua bán số lô, số đề là 2.494.000 đồng.
Bằng hành vi nêu trên thì bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 vì ngày 11/12/2023, Nguyễn Thị T đã bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn lợi ích của cá nhân bị cáo mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét cần xử lý bị cáo bằng hình phạt nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thị T không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thị T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ.
Xét các bị cáo Nguyễn Thị T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người cao tuổi, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, Hội đồng xét xử xét nếu không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do bị cáo T có đủ điều kiện quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi cho bị cáo T được hưởng án treo là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo có thu nhập ổn định, số tiền bị cáo dùng để đánh bạc không lớn nên Hội đồng xét xử xét không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - Tiền Ngân hàng N 740.000 đồng (thu của T), 1.000.000 đồng (thu của T1). Đây là số tiền của bị cáo thu lợi bất chính nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
Ngoài ra, bị cáo T đã thu lợi bất chính số tiền 700.000 đồng nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 700.000 đồng là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác:
Các đối tượng Hồ Giang T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị H, Lê Thị P không có tiền án, tiền sự, số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.
Đối với các đối tượng không rõ lai lịch mua số lô, số đề của bị cáo T chưa làm việc được, cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi tìm được sẽ làm việc xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Lưu vào hồ sơ vụ án 02 tờ giấy phơi đề ngày 31/7/2024.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- + Tiền Ngân hàng N 740.000 (Bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng (thu của T), 1.000.000 (Một triệu) đồng (thu của T1).
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 700.000 (Bảy trăm) nghìn đồng.
- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Thị T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Số tiền trên được nhập vào số tài khoản của Công an huyện C tại Kho bạc Nhà nước huyện C.
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 2192/LNK-ĐCSHS ngày 22/12/2024).
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Thị T).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Trung |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 9 tháng tù treo
