|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 25/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Quang.
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đoàn Xuân Toàn
- - Ông Phạm Hồng Chương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 16/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 11/11/2025 đối với bị cáo:
TRẦN ANH V; sinh ngày: 30/11/1985 tại phường T, tỉnh ĐắkLắk; nơi cư trú: Số nhà E, Liên gia E, tổ dân phố A, phường T, tỉnh ĐắkLắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1960 và bà Võ Thị V1, sinh năm 1959; có vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1992 (Đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk xử phạt Trần Anh V 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Trần Anh V phải chấp hành 02 năm tù tại Bản án số 245/2010/HSST (hiện đã được xóa án tích). Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 cho đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Tại điểm cầu trung tâm:
- - Người bị hại: Anh Kiều Thanh H1, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên toà.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Lê Thị Thu T, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số F, đường L, khối H, phường T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Vắng mặt tại phiên toà
- + Ông Võ Hải L, sinh năm: 1964; địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường N, khối F quán B, phường V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Hưu trí. Có mặt tại phiên toà
- - Người tham gia tố tụng khác:
- + Cán bộ, chiến sỹ Trại Tạm giam Công an tỉnh H được phân công thực hiện nhiệm vụ tại phiên tòa trực tuyến, có mặt tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến Trại Tạm giam Công an tỉnh H: Đồng chí Nguyễn Văn N1, cán bộ Đội Cảnh sát bảo vệ làm Tổ trưởng và các đồng chí Nguyễn Đình Q, đồng chí Phan Trung T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 03/8/2025, Trần Anh V đến nhà anh Kiều Thanh H1 để chơi. Đến sáng ngày 06/8/2025, do con trai anh H1 là Kiều Mạnh T2 đang điều trị tại Trung tâm y tế H2 nên anh H1 đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 38P1-698.91 của mình chở V đến Trung tâm y tế H2 để chăm sóc con. Khi đến nơi, anh H1 dựng xe mô tô ở khu vực sân sau khoa N2, sau đó cùng V lên phòng số 4, khoa N3 để chăm sóc con. Tại phòng bệnh, anh H1 để chìa khóa xe mô tô trên tủ đầu giường rồi cùng con và V ăn cơm trưa nghỉ tại đây. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, do cần tiền tiêu xài cá nhân, V nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H1. Lợi dụng lúc anh H1 cùng con đang ngủ, V lén lút lấy chìa khóa xe đi xuống khu vực sân sau khoa N2 lấy trộm chiếc xe mô tô nói trên với mục đích cầm cố lấy tiền. Đến 14 giờ 14 phút cùng ngày, V điều khiển xe đến tiệm cầm đồ số F, đường L, khối H, phường T, tỉnh Nghệ An gặp Lê Thị Thu T. Tại đây, V biết trước trong cốp xe có Giấy đăng ký xe mô tô mang tên Kiều Thanh H1 nên mở cốp lấy đưa cho T xem rồi nói chiếc xe mô tô là của mình mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi trao đổi, V đề nghị được cầm cố chiếc xe để lấy 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) thì T đồng ý rồi sử dụng số tài khoản 161945678 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 mang tên Đậu Quốc V2 (chồng T) để chuyển số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) vào tài khoản số [...], Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 mang tên Trần Anh V. Nhận được tiền, V tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 07/8/2025, V đến công an phường B, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá số 560/KLĐG-HĐĐG ngày 12/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong Tố tụng hình sự - tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 38P1 – 698.91, số máy: JA70E0914949, số khung RLHJA3936SY440079, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá trị giá 15.830.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Về tang vật thu giữ: Thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 38P1-698.91, số máy: JA70E0914949, số khung RLHJA3936SY440079, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 38 00012284 tên chủ xe là Kiều Thanh H1.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nói trên chủ sở hữu là anh Kiều Thanh H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Kiều Thanh H1.
- Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Kiều Thanh H1 không yêu cầu bị cáo Trần Anh V bồi thường gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Trần Anh V đã tác động nhờ cậu ruột là Võ Hải L bồi thường cho chị Lê Thị Thu T số tiền 12.000.000 đ (Mười hai triệu đồng), hiện chị T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về phần dân sự; anh Võ Hải L không yêu cầu bị cáo Trần Anh V trả lại số tiền anh đã bồi thường thay cho bị cáo.
Cáo trạng số 04/CT–VKS- KV3 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Anh V mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 07/8/2025 về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Anh V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Anh V khai báo thành khẩn, xin giảm nhẹ hình phạt và không có khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Thu T nhưng việc vắng mặt không ảnh hưởng cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.
- [2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có được trong hồ sơ vụ án cho thấy: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 06/8/2025 tại Trung tâm y tế H2, thuộc tổ dân phố Đ, phường B, tỉnh Hà Tĩnh bị cáo Trần Anh V đã có hành vi lấy trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 38P1-698.91 của anh Kiều Thanh H1 rồi đưa đi cầm cố cho chị Lê Thị Thu T lấy số tiền 12.000.000 đ (Mười hai triệu đồng) và tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 560/KLĐG-HĐĐG ngày 12/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong Tố tụng hình sự - tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 38P1 – 698.91, số máy: JA70E0914949, số khung RLHJA3936SY440079, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá trị giá 15.830.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Do đó, HĐXX có đầy đủ các căn cứ để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173-BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hà Tĩnh truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng: Không
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tác động đến người thân để nhờ bồi thường thiệt hại, đầu thú và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Tuy nhiên, ngày 29/9/2010, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Trần Anh V phải chấp hành 02 năm tù tại Bản án số 245/2010/HSST nên Tòa xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người có ích và ngăn ngừa chung cho toàn xã hội.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Anh V.
Trong vụ án này, chị Lê Thị Thu T là người cho bị cáo Trần Anh V cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38P1 – 698.91. Tuy nhiên chị T không biết chiếc xe mô tô này là do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
- [3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về phần dân sự nên miễn xét.
- [4]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được xử lý tại giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Anh V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Anh V 12 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/8/2025.
- - Buộc bị cáo Trần Anh V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Xuân Quang |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Anh V phạm tội " Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
