Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh – Nghề nghiệp: Giáo viên hưu trí
  2. Ông Bùi Sỹ Thắng – Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thảo, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 15/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 10/11/2025 đối với bị cáo:

Đào Văn D

(khi phạm tội 17 tuổi 07 tháng 19 ngày); sinh ngày 15 tháng 11 năm 2007; tại: xã T, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Đào Văn N; con bà: Phạm Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/9/2025.

Có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Ông Đào Văn N1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).

* Bị hại:

Anh Đào Duy H1, sinh ngày 09/7/2007 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  1. Chị Vũ Thị O, sinh năm 2009 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Chị Vũ Thị Á, sinh năm 2003 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  7. Anh Đào Văn T1, sinh năm 1984 (Có mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Anh Lê Văn N2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

  11. Anh Đoàn Văn H2, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
  12. Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 04/7/2025 Đào Văn D, sinh ngày 15/11/2007 ở thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa đang nằm chơi ở nhà văn hoá thôn C, xã T. Do nghĩ việc bị bố mẹ chửi bới và so sánh với anh Đào Duy H1, sinh năm 2007 ở cùng thôn nên D bực tức và nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của anh H1. Đến khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, D đi bộ từ nhà văn hoá đến trước cổng nhà anh H1, quan sát bên trong nhà anh H1 đã tắt điện, cửa cổng chỉ chốt không khóa, nên D luồn tay vào mở chốt rồi đẩy cửa cổng đi vào. Khi vào đến sân, D phát hiện tại đây có 03 chiếc xe mô tô, gồm: 01 xe Vario màu trắng đen, nhãn hiệu Honda BKS: 36BB-080.62 mà anh H1 thường đi; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison màu xám; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím. D quan sát xung quanh thấy không có người nên D đi lại vị trí xe môtô Vario, thấy xe không khóa cổ, chìa khóa xe để trong hốc để đồ bên phía dưới tay lái bên trái nên D dắt chiếc xe trên đi ra khỏi nhà anh H1 quay lại nhà văn hóa thôn C, xã T. Tại đây D mở cốp xe thấy bên trong có 01 bộ quần áo mưa màu đỏ đen và 01 áo chống nắng sọc ca rô màu vàng nâu. Do sợ bị phát hiện nên D lấy áo chống nắng mặc vào người đội mũ áo chống nắng trùm lên đầu, nổ máy rồi tăng ga điều khiển xe đi ra đường bờ ruộng phía Nam cách Nhà văn hóa khoảng 300m, men đi theo đường bờ ruộng để đi đến UBND xã Q (cũ) hiện không có người làm việc thuộc thôn B, xã T giấu vào bên hông khu phòng kho của UBND khóa cổ rồi đi bộ về nhà văn hóa thôn C, xã T lấy xe máy (xe mượn của Vũ Kiều O1, sinh năm 2009 ở thôn T, xã T trước đó) đi về nhà ngủ.

Khoảng 06 giờ 30 ngày 05/7/2025 kiểm tra, phát hiện bị mất tài sản, anh Đào Duy H1 đã đến Công an xã T trình báo sự việc. Nhận được nguồn tin về tội phạm, Công an xã T đã tiến hành xác định hiện trường, rà soát Camera thu thập tài liệu chứng cứ để xác định đối tượng.

Đến khoảng 14 giờ 35 phút ngày 05/6/2025, anh Đoàn Văn H2 sinh năm 1988 là Trưởng ban chỉ huy quân sự xã T trong quá trình sửa chữa phát hiện tại hông phòng kho chống thiên tai, bão lụt Ủy ban nhân dân xã Q (cũ) có 01 xe Vario màu trắng đen, nhãn hiệu Honda BKS: 36BB-080.62 nên đã trình báo Công an xã T.

Biết hành vi phạm tội đã bị phát giác, không thể trốn tránh trước pháp luật. Hồi 15 giờ 00 phút ngày 06/7/2025 Đào Văn D đến Công an xã T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 239/KL-HDĐG ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T. Kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VARIO 12, màu trắng đen, BKS: 36BB-080.62 theo Yêu cầu định giá tài sản tại Công văn số 15627/YC-VPCQCSĐT ngày 17/7/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T là: 38.333.333 đồng (Ba mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

Về vật chứng của vụ án: 01 xe Honda Vario màu trắng đen, BKS: 36BB-080.62 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho anh Đào Duy H1.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Đào Duy H1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đào Văn D.

Tại bản cáo trạng số 28/CTr-VKSKV2 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thanh Hoá truy tố bị cáo Đào Văn Duy về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Đào Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; đề nghị xử phạt Đào Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.

Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hồi đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên để tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất theo mức đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị tại phiên toà.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đào Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 04/7/2025, Đào Văn D đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà gia đình anh Đào Duy H1, sinh năm 2007 ở thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp 01 xe Honda Vario màu trắng đen, BKS: 36BB-080.62 của anh H1 đang để ở sân, trị giá 38.333.333 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Hành vi của bị cáo Đào Văn D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thanh Hoá đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự xã hội, cần phải được xử lý nghiêm. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 04/7/2025), bị cáo chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 07 tháng 19 ngày), nên được áp dụng các quy định về xử lý người chưa thành niên phạm tội. Bị cáo lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ giáo dục bị cáo, đồng thời không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại các Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội đầu thú, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Vì vậy, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Tài sản trộm cắp là 01 xe Honda Vario màu trắng đen, BKS: 36BB-080.62, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại cho anh Đào Duy H1 là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại là anh Đào Duy H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Đào Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt:

Bị cáo Đào Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thừ thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HOÁ về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn D Tộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger