Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM THAO

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Tiến Dũng.
    2. Ông Nguyễn Ngọc Tâm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1978 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1950; Vợ: Đinh Thị K, sinh năm 1978; có 03 con; lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Tất T1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 8 năm 1975 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu B, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm: 19 và bà Lê Thị H1 (đã chết); vợ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976; có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999;

Tiền án: Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 19/9/2018 của Tòà án nhân dân huyện L xử phạt Nguyễn Tất T1 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thầm; phạt bổ sung 25.000.000 đồng; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 9.075.000 đồng về tội "Đánh bạc" theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đến nay, T1 đã thi hành xong án phí 200.000đ; khoản tịch thu 5.000.000đ; còn phải thi hành tiền phạt bổ sung 25.000.000đ và tịch thu 4.075.000đ.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 06/9/2019, Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt tiền 750.000 đồng. Chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 13/9/2019.
  • - Ngày 07/12/2020, Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Mua dâm", quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt tiền 750.000 đồng. Chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 08/12/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3. Họ và tên: Triệu Thị D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 9 năm 1982 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1940; chồng: Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1974; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

4. Họ và tên: Khổng Thị H3; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1974; nơi cư trú: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Văn H4 (đã chết) và bà Chử Thị V, sinh năm 1952; chồng: Nguyễn Hữu H5, sinh năm 1975; có 02 con; lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T do không có công việc ổn định và hám lời nên nảy sinh ý định mua bán số lô, số đề với người khác. T thống nhất với Khổng Thị H3 và Nguyễn Tất T1 về việc sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại di động để thực hiện mua bán số lô, số đề với nhau; việc thanh toán được thực hiện trực tiếp với nhau vào ngày hôm sau. Sau đó, T1 có nói chuyện với Triệu Thị D về việc T1 nhận chuyển hộ số lô đề và cũng thỏa thuận chuyển qua tin nhắn zalo, thanh toán vào ngày hôm sau.

Về hình thức mua bán số lô, đề các đối tượng thỏa thuận như sau: Số đề được so sánh với các số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì được trả theo tỷ lệ số đề hai số là 01 ăn 70 lần. Số đề ba số (Ba càng) đối chiếu với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng thì trúng thưởng, người chơi được trả số tiền gấp 350 lần tiền mua. Nếu không trùng thì người chơi mất số tiền đặt mua. Số lô quy ước 01 điểm lô là 20.000 đồng, đối chiếu với hai số cuối của tất cả các giải (21 giải), nếu trùng là trúng thưởng, người chơi được trả 70.000 đồng/1 điểm. Đối với lô xiên nếu tất cả các số đã mua đều có kết quả trùng thì là trúng thưởng, quy định một điểm lô xiên là 10.000 đồng, nếu trúng thưởng lô xiên 2 được trả 100.000 đồng/1 điểm. Nếu không trùng thì người chơi mất số tiền đã đặt mua.

Khoảng 17 giờ ngày 17/3/2025, Triệu Thị D sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A05, đăng nhập zalo "Nhật Minh" đăng ký số điện thoại 0949.878.xxx gửi 13 tin nhắn đến tài khoản zalo "Phương Thảo" của Nguyễn Tất T1 được đăng ký số điện thoại 0343.129.xxx nhờ mua hộ các số lô đề; khi D gửi 13 tin nhắn đến, T1 xác nhận đồng ý mua hộ các số lô, đề cho D với tổng số tiền là 22.670.000đ. Sau đó T1 đã giảm số tiền, giữ lại 02 tin nhắn số lô, đề tương ứng với số tiền 5.535.000 đồng để tính thắng, thua trực tiếp với D. Số lô, đề còn lại tương ứng với số tiền 17.135.000đ T1 chuyển cho Nguyễn Văn T. Ngoài ra, T1 còn mua các số lô đề của T với số tiền 15.290.000đ. Để thực hiện việc chuyển số lô đề của D và của mình, T1 sử dụng điện thoại di động cài sim số 0343129889 đăng nhập zalo "Anh T2” nhắn 23 tin đến tài khoản zalo "Hoàng Anh T3" được đăng ký số 0365246675 của T. Sau khi T1 gửi 23 tin đến, T xác nhận mua các số lô, đề với tổng số tiền là 32.425.000đ.

Hồi 17 giờ 46 ngày 17/3/2025, Khổng Thị H3 sử dụng điện thoại đăng nhập Zalo "Oanh H3" nhắn 02 tin đến zalo "Hoàng Anh T3" của T mua các số lô, đề gồm: Tin 1: Bảng các số lô, số đề được ghi trên giấy chia làm các cột với tổng số tiền tương ứng là 11.075.000 đồng; Tin 2: Bảng các số đề ghi trên giấy tổng số tiền là 90.000 đồng. Sau khi H3 gửi 02 tin đến, T xác nhận mua các số lô, đề của H3 với tổng số tiền là 11.165.000đ.

Đến hồi 18 giờ 10 phút ngày 17/3/2025, Phòng C Công an tỉnh P phối hợp cùng chính quyền địa phương kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T và Khổng Thị H3 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô đề nêu trên. Cùng ngày, Nguyễn Tất T1 và Triệu Thị D, đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: 01 điện thoại di động Oppo A3S đã qua sử dụng lắp số thuê bao 0365.246.675 của Nguyễn Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9Pro, lắp số 0877352496; 01 tờ giấy kẻ (bảng đề) được viết bằng mực nước màu đen và 01 bút mực nước, vỏ ngoài có chữ Doraemon của Khổng Thị H3; 01 điện thoại di động Oppo A58, lắp sim số 0343129889 của Nguyễn Tất T1; 01 điện thoại di dộng S, lắp sim số 0385231380 của Triệu Thị D. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ thuê bao các số điện thoại 0365.246.xxx, 0877352496, 0949878371 xác định đây là các sim không đăng ký thông tin chính chủ. Tiến hành kiểm tra, trích xuất dữ liệu điện tử từ điện thoại thu giữ, phù hợp với lời khai của các bị cáo. Việc đánh bạc dưới hình thức lô, đề bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày, các bị cáo chưa thanh toán nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền thỏa thuận mua bán lô, đề với nhau nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D, Khổng Thị H3 đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm. Lời khai của các bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập. Ngày 20/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều Công an tỉnh P ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T, Khổng Thị H3, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số: 35/CT-VKSPT-P2 ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D, Khổng Thị H3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân, huyện L tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D, Khổng Thị H3 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tất T1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Khổng Thị H3, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng. Xử phạt bị cáo Khổng Thị H3 từ 60.000.000 đồng đến 65.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Thị D. Xử phạt bị cáo Triệu Thị D từ 65.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9 Pro, có số IMEI 1: 352212080298446, IMEI 2: 352213080298444 lắp sim số thuê bao 0877352496; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, có số IMEI 1: 868125043342696, IMEI 2: 868125043342688 lắp sim số thuê bao 0365246675; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, có số IMEI 1: 865039065096598, IMEI 2: 865039065096580 lắp sim số thuê bao 0343129889; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, có số IMEI 1: 354035902094372, IMEI 2: 354978662094373 lắp sim số thuê bao 0385231380 là vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 bút mực nước, vỏ ngoài có chữ Doraemon, có mã vạch số 8935001853633 bị cáo H3 sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng và các sim điện thoại gồm: 0877.352.xxx, 0365246675, 0343129889, 0385231380 không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc gồm: Bị cáo D thỏa thuận mua số lô, đề trực tiếp với bị cáo T1 số tiền 22.670.000 đồng; bị cáo T1 thỏa thuận mua số lô, số đề trực tiếp với bị cáo T là 15.290.000 đồng; bị cáo H3 thỏa thuận mua số lô, số đề trực tiếp với bị cáo T là 11.165.000 đồng cần phải truy thu, sung quỹ nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D, Khổng Thị H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 17/3/2025, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T4, Khổng Thị H3 và Triệu Thị D đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Trong đó: Nguyễn Văn T đánh bạc với Nguyễn Tất T1 số tiền 32.425.000đ và đánh bạc với Khổng Thị H3 số tiền 11.165.000đ. Tổng số tiền T sử dụng vào mục đích đánh bạc là 43.590.000 đồng. Khổng Thị H3 đánh bạc mua bán số lô, số đề với Nguyễn Văn T với số tiền tương ứng là 11.165.000 đồng. Nguyễn Tất T1 trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Văn T số tiền 15.290.000đ; T1 còn giúp sức cho Triệu Thị D đánh bạc với Nguyễn Văn T sô tiền 17.135.000đ. T1 đánh bạc trực tiếp với D số tiền 5.535.000đ. Tổng số tiền T1 phải chịu trách nhiệm hình sự sử dụng vào mục đích đánh bạc là 37.590.000 đồng. Triệu Thị D phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 22.670.000 đồng.

Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D, Khổng Thị H3 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rằng đánh bạc không những là vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt tương xứng mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, để các bị cáo trở thành người công dân có ích.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất đường dây; tuy nhiên hành vi thực hiện việc phạm tội của các bị cáo mang tính chất giản đơn, mức độ ít nghiêm trọng, các bị cáo cùng chung ý chí đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Về số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc thì bị cáo Nguyễn Văn T có số tiền dùng vào việc đánh bạc là lớn nhất sau đó đến bị cáo Nguyễn Tất T1, Triệu Thị D và Khổng Thị H3.

Đối với bị cáo Nguyễn Tất T1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo là người đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”; bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” và bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “mua dâm”; nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc; điều đó cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích.

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Triệu Thị D và Khổng Thị H3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Triệu Thị D và Khổng Thị H3 đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tất T1 và Triệu Thị D đầu thú, ngoài ra bị cáo T1 có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo T1, bị cáo D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo T, D, H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) đến 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Xét thấy, bị cáo T1 không có tài sản riêng gì có giá trị; các bị cáo T, D, H3 bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9 Pro, có số IMEI 1: 352212080298446, IMEI 2: 352213080298444 lắp sim số thuê bao 0877352496; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, có số IMEI 1: 868125043342696, IMEI 2: 868125043342688 lắp sim số thuê bao 0365246675; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, có số IMEI 1: 865039065096598, IMEI 2: 865039065096580 lắp sim số thuê bao 0343129889; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, có số IMEI 1: 354035902094372, IMEI 2: 354978662094373 lắp sim số thuê bao 0385231380 là vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 bút mực nước, vỏ ngoài có chữ Doraemon, có mã vạch số 8935001853633 bị cáo H3 sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng và các sim điện thoại gồm: 0877.352.xxx, 0365246675, 0343129889, 0385231380 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tất T1;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Khổng Thị H3

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Thị D;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tất T1, Nguyễn Văn T, Khổng Thị H3, Triệu Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T1 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 17/3/2025 đến ngày 20/3/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng).

    Xử phạt bị cáo Triệu Thị D 65.000.000đ (sáu mươi lăm triệu đồng).

    Xử phạt bị cáo Khổng Thị H3 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).

  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9 Pro, có số IMEI 1: 352212080298446, IMEI 2: 352213080298444 lắp sim số thuê bao 0877352496; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, có số IMEI 1: 868125043342696, IMEI 2: 868125043342688 lắp sim số thuê bao 0365246675; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, có số IMEI 1: 865039065096598, IMEI 2: 865039065096580 lắp sim số thuê bao 0343129889; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, có số IMEI 1: 354035902094372, IMEI 2: 354978662094373 lắp sim số thuê bao 0385231380 là vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bút mực nước, vỏ ngoài có chữ Doraemon, có mã vạch số 8935001853633 thu giữ của bị cáo Khổng Thị H3 và các sim điện thoại gồm: 0877.352.xxx, 0365246675, 0343129889, 0385231380 thu giữ của các bị cáo.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao và Cơ quan Cảnh sát điền tra Công an tỉnh P)

    Truy thu của bị cáo Nguyễn Tất T1 số tiền 15.290.000đ (mười lăm triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng)

    Truy thu của Khổng Thị H3 số tiền 11.165.000đ (mười một triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

    Truy thu của Triệu Thị D số tiền 22.670.000đ (hai mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Tất T1, Nguyễn Văn T, Khổng Thị H3, Triệu Thị D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Thao;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Đức Xiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger