Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 24-03-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn

Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Hào

Bà Nguyễn Thị Anh Quế

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Thiều Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1985; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Văn hóa: 0/12; Nghề nghiệp: Tự do; Bố đẻ bị cáo: không có thông tin; Mẹ đẻ: Hoàng Thị H1, đã mất; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2025, đến ngày 17/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Mạnh T; Địa chỉ: Số D, T, phường Q, thành phố N. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Vũ Tuấn Đ, sinh năm 1984. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 08/01/2025 tại khu vực đường Đ, xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, tổ công tác phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N bắt quả tang Hoàng Văn H thực hiện hành vi giao 01 túi nilong màu đen bên trong đựng 01 vật hình hộp chữ nhật kích thước (14,7x14,7x13,5)cm, bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ tiếng nước ngoài và 02 vật hình trụ tròn, vỏ cuốn bằng giấy màu trắng có kích thước chiều cao khoảng 12cm, đường kính khoảng 6cm cho Ngô Mạnh T, sinh năm 1990 ở 4 T, phường Q, thành phố N và H đang di chuyển lên hàng ghế sau xe taxi hãng M biển số 18H-026.06 do anh Vũ Tuấn Đ, sinh năm 1984, trú tại: C L, phường Q, thành phố N điều khiển. Quá trình kiểm tra phát hiện tại hàng ghế sau xe taxi có 01 bao xác rắn màu đen bên trong đựng 05 vật hình hộp chữ nhật, kích thước (14x14x14,5)cm, bao bì màu đỏ vàng, in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 03 vật hình hộp chữ nhật kích thước (16,5x16x9,5)cm, bao bì nhiều màu sắc, in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài. H khai nhận toàn bộ tang vật trên là pháo nổ, H nhận vận chuyển thuê cho một người đàn ông (H không biết tên tuổi địa chỉ, chỉ biết sử dụng số điện thoại 0817.875.xxx). Tổ công tác đã đưa H cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã N, huyện N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ vật chứng.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng đầu tháng 01/2025, Hoàng Văn H gặp một người đàn ông tên H (Hoàng Văn H không biết địa chị cụ thể, chỉ biết người này sử dụng số điện thoại 0822.500.xxx, sau đây gọi tắt là H A). H A rủ H đi vận chuyển pháo nổ thuê để lấy tiền tiêu xài; do đang không có công ăn việc làm nên H nhận lời việc đi vận chuyển pháo nổ thuê. Qua H A giới thiệu thì H biết việc vận chuyển pháo nổ thuê sẽ được nhận tiền công khoảng 200.000đồng -250.000 đồng/giàn pháo nổ; sau đó H A đưa H chiếc điện thoại Xiaomi và nói khi nào có đơn hàng thì sử dụng điện thoại này để liên lạc với người thuê H vận chuyển pháo nổ. H đã lắp sim điện thoại 0812.304.xxx của H vào máy điện thoại trên để sử dụng. Do H không có phương tiện đi lại nên H A hướng dẫn H việc vận chuyển pháo nổ phải sử dụng taxi vận chuyển để tránh bị các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện.Với phương thức như trên, Hoàng Văn H đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 08/01/2025, người thuê H vận chuyển pháo nổ gọi điện báo có “đơn hàng cần đi gấp” và hẹn H đến địa điểm nhận pháo (trên đường đê thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nam Định). Khi đó H đang ở khu vực siêu thị G (P. L, TP N) nên H vẫy 01 xe taxi của hãng M đang di chuyển gần đó, và yêu cầu lái xe taxi đến đường đê thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (đi qua nhà vườn H2).

Khoảng 12 giờ 20 phút H đến điểm hẹn, gọi điện báo và người thuê vận chuyển pháo nổ khoảng 22 tuổi mặc quần nỉ màu đen, áo khoác gió màu xanh, đeo khẩu trang kín mặt) đi xe gắn máy Dream màu đen nhưng không rõ biển số đến, đỗ phía sau xe taxi khoảng 05 mét. H xuống xe và nói chuyện với người thuê vận chuyển pháo nổ. Tại đây, người thuê vận chuyển pháo nổ đưa cho H 01 bao tải xác rắn màu đen bên trong đựng 08 giàn pháo hoa nổ và 01 túi ni lông màu đen bên trong có 01 giàn pháo hoa nổ và 02 quả pháo cuốn. Người này đưa cho H 01 tờ giấy ghi thông tin “1 giàn 2 quả (N) – 0814167143; 8 giàn (T) – 0829091320", sau đó dặn H giao đơn hàng Nam Trực thì thu tiền hộ người này 1.200.000đồng và tiền ship của H là 300.000 đồng (tổng 1.500.000đồng) và giao hàng cho người ở T thì thu tiền ship 1.500.000đồng. Trong quá trình nhận pháo nổ, H lấy điện thoại ra chụp ảnh lại túi ni lông (bên trong có 01 giàn pháo hoa nổ và 02 quả pháo cuốn) là đơn hàng giao cho người ở N. Khoảng 10 phút sau, H bê bao xác rắn bên trong đựng 02 đơn hàng pháo nổ này lên để ở ghế sau xe taxi và yêu cầu người lái xe taxi chở đến huyện N. Trên đường đi, H gọi điện cho người nhận pháo ở huyện N (số điện thoại 0814.167.xxx) là Ngô Mạnh T và hẹn H đến khu vực đường đê xã N, huyện N để nhận pháo nổ. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày đến địa điểm hẹn, H yêu cầu lái xe taxi đỗ ở bên phải đường, H mở bao xác rắn, lấy ra túi ni lông màu đen (bên trong đựng 01 giàn pháo hoa nổ và 02 quả pháo cuốn) để giao cho Ngô Mạnh T còn đơn hàng giao cho người ở T thì H vẫn để nguyên trong bao tải xác rắn và đặt ở hàng ghế sau xe taxi đứng đợi. H cầm túi ni lông màu đen này xuống xe, đi bộ sang phía bên kia đường (đối diện phía sau đuôi xe taxi) và giao cho người nhận pháo. Tại đây, T nhận pháo sau khi kiểm tra, xác nhận đủ số pháo nổ thì đưa cho H số tiền 1.500.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) bao gồm tiền H nhận hộ người thuê vận chuyển 1.200.000 đồng và 300.000đồng tiền công vận chuyển của H. Hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, ngay sau khi giao hàng và nhận tiền xong, H đang chuẩn bị lên xe taxi thì bị tổ công tác của phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 05 (năm) vật hình hộp chữ nhật, kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14x14x14,5 (cm), bao bì màu đỏ vàng in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 03 (ba) vật hình hộp chữ nhật, kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 16,5x16x9,5 (cm), bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài nêu trên là pháo nổ, tổng khối lượng: 11,967 kg (mười một phẩy chín trăm sáu mươi bảy ki lô gam). Đây là số pháo nổ mà Hoàng Văn H để trên hàng ghế phía sau xe taxi, đang trên đường đi giao cho người nhận ở T.

Bản kết luận giám định số 289/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của phòng K Công an tỉnh N kết luận 01 (một) vật hình hộp chữ nhật, kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14,7x14,7x13,5 (cm), bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 02 (hai) vật hình trụ tròn, vỏ cuốn bằng giấy màu trắng có kích thước chiều cao khoảng 12 cm, đường kính khoảng 6 cm nêu trên là pháo nổ, tổng khối lượng: 1,916 kg (một phẩy chín trăm mười sáu ki lô gam). Đây là số pháo nổ mà Ngô Mạnh T đã nhận từ Hoàng Văn H.

Tổng cộng khối lượng toàn bộ số pháo nổ mà Hoàng Văn H vận chuyển là: 13,883 kg.

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - 05 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14x14x14,5 (cm); 03 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 16,5x16x9,5 (cm), 01 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14,7x14,7x13,5 (cm), bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 02 quả pháo nổ kích thước chiều cao khoảng 12 cm, đường kính khoảng 6 cm. Sau khi tiến hành mở niêm phong, Cơ quan giám định lấy mẫu phục vụ công tác giám định về pháo nổ, số pháo còn lại đã niêm phong bảo quản kho vật chứng theo quy định.
  • - Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A của Hoàng Văn H. Cơ quan điều tra đã khai thác thông tin trong điện thoại này, trích xuất các nội dung lịch sử cuộc gọi, các tin nhắn, hình ảnh liên quan đến việc H vận chuyển pháo nổ thuê, phù hợp với lời khai của H.
  • - Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung của Ngô Mạnh T. Cơ quan điều tra đã khai thác thông tin trong điện thoại này, trích xuất các nội dung các tin nhắn Zalo thể hiện việc T thoả thuận, đặt mua pháo nổ với mục đích để đốt, phù hợp với lời khai của T.
  • - Thu giữ 01 tờ giấy bìa cứng màu trắng, bên trên có chữ “1 giàn 2 quả (N) – 0814167143; 8 giàn (T) - 0829091320” được viết bằng mực màu xanh. Đây là tờ giấy mà người thuê Hoàng Văn H vận chuyển pháo nổ đưa cho H để H liên lạc vận chuyển giao pháo nổ cho người nhận hàng.
  • - Thu giữ 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền là: 1.500.000 đồng. Đây là số tiền (bao gồm tiền thanh toán mua pháo nổ và tiền cước vận chuyển) mà Ngô Mạnh T đưa cho Hoàng Văn H.

Tất cả vật chứng đều nhập kho vật chứng theo quy định. Đối với 01 tờ giấy bìa cứng màu trắng được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-P3 ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Hoàng Văn H về tội “ Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 08/01/2025 tại khu vực đường Đ, xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Hoàng Văn H có hành vi vận chuyển thuê 13,883kg pháo nổ để lấy tiền công thì bị tổ công tác phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N bắt quả tang.

Hành vi của Hoàng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX đánh giá: Hành vi vận chuyển pháo nổ của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Nam Định. Đảng và Nhà nước bằng nhiều biện pháp, đặc biệt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về việc nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, sử dụng pháo nổ. Bị cáo là người có năng lực pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình; HĐXX quyết định hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục để bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Vật chứng của vụ án: 05 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14x14x14,5 (cm); 03 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 16,5x16x9,5 (cm), 01 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14,7x14,7x13,5 (cm), bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 02 quả pháo nổ kích thước chiều cao khoảng 12 cm, đường kính khoảng 6 cm. Sau khi tiến hành mở niêm phong, Cơ quan giám định lấy mẫu phục vụ công tác giám định về pháo nổ, số pháo còn lại đã niêm phong bảo quản kho vật chứng theo quy định.

  • - Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A của Hoàng Văn H. Cơ quan điều tra đã khai thác thông tin trong điện thoại này, trích xuất các nội dung lịch sử cuộc gọi, các tin nhắn, hình ảnh liên quan đến việc H vận chuyển pháo nổ thuê, phù hợp với lời khai của H.
  • - Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung của Ngô Mạnh T. Cơ quan điều tra đã khai thác thông tin trong điện thoại này, trích xuất các nội dung các tin nhắn Zalo thể hiện việc T thoả thuận, đặt mua pháo nổ với mục đích để đốt, phù hợp với lời khai của T.
  • - Thu giữ 01 tờ giấy bìa cứng màu trắng, bên trên có chữ “1 giàn 2 quả (N) – 0814167143; 8 giàn (T) - 0829091320” được viết bằng mực màu xanh. Đây là tờ giấy mà người thuê Hoàng Văn H vận chuyển pháo nổ đưa cho H để H liên lạc vận chuyển giao pháo nổ cho người nhận hàng.
  • - Thu giữ 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền là: 1.500.000 đồng. Đây là số tiền (bao gồm tiền thanh toán mua pháo nổ và tiền cước vận chuyển) mà Ngô Mạnh T đưa cho Hoàng Văn H.

[8] Những vấn đề liên quan trong vụ án:

  • - Đối với Ngô Mạnh T: T đã thoả thuận, đặt mua và nhận được pháo nổ (01 giàn pháo hoa nổ và 02 quả pháo cuốn, có tổng khối lượng theo kết luận giám định là 1,916 kg pháo nổ chưa đủ 06 ki lô gam) do Hoàng Văn H vận chuyển giao cho T. Mục đích T mua số pháo nổ này về để tàng trữ, sử dụng cá nhân, đốt pháo chơi Tết. Bản thân T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Do vậy, hành vi của T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ pháo nổ” theo quy định tại Điều 191 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Mạnh T hành vi “tàng trữ trái phép pháo” theo quy định tại điểm e, Khoản 4, Điều 11, Nghị định số 114/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
  • - Đối với người thuê Hoàng Văn H vận chuyển pháo nổ chỉ có thông tin sử dụng số điện thoại 0817.875.xxx: cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định người có thông tin đăng ký số thuê bao 0817.875.548 là bà Lê Thị D; sinh ngày 06/7/1970, trú tại A B, B, T, An Giang, từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại này, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký và H xác nhận đây không phải là người thuê H vận chuyển pháo nổ. Bản thân H không biết thông tin, đặc điểm nhận dạng cụ thể của người thuê H vận chuyển pháo nổ. Do đó, không xác định được thông tin cụ thể của người đã thuê H vận chuyển pháo nổ để có căn cứ điều tra, xử lý hành vi vi phạm.
  • - Đối với người đàn ông tên H (Hùng A) là người giới thiệu H vận chuyển pháo nổ, chỉ có thông tin sử dụng số điện thoại 0822.500.xxx: Kết quả xác minh người có thông tin đăng ký số thuê bao 0822.500.070 là chị Bùi Thị D1; sinh ngày 15/11/1983, trú tại xóm V, Đ, Kim B, Hòa B1 và H xác nhận người này không phải người đàn ông H. Bản thân Hoàng Văn H không biết thông tin, đặc điểm nhận dạng cụ thể của H A. Do đó, không có căn cứ điều tra, xử lý hành vi vi phạm.
  • - Đối với Vũ Tuấn Đ, lái xe taxi chở Hoàng Văn H đi vận chuyển pháo nổ: Do không biết Hoàng Văn H vận chuyển pháo nổ, chỉ nhận chở thuê khách như thông thường. Kết quả điều tra đến nay không có tài liệu chứng cứ thể hiện việc Đ biết và tham gia giúp Hoàng Văn H vận chuyển pháo nổ. Vì vậy, không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Vũ Tuấn Đ.
  • - Ngoài ra, Hoàng Văn H còn khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 07/01/2025; người thuê H vận chuyển (sử dụng số điện thoại 0817.875.xxx) gọi điện cho H yêu cầu H đi vận chuyển pháo nổ (một bao xác rắn bên trong có 06 giàn pháo hoa nổ) từ khu vực đường Đ thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (đi qua nhà vườn H2) đến khu vực huyện T giao cho một người số điện thoại 0829.091.xxx và nhận 1.500.000đồng tiền công vận chuyển. Đối với lời khai nhận của Hoàng Văn H về việc ngày 07/01/2025 đã vận chuyển thuê pháo nổ giao cho một người ở huyện T để nhận tiền công vận chuyển, xét thấy chỉ có lời khai của H, kết quả điều tra không thu giữ được vật chứng, xác minh về người nhận pháo tại huyện T, tỉnh Nam Định chỉ có thông tin sử dụng số điện thoại 0829.091.xxx. Kết quả người có thông tin đăng ký số thuê bao 0829.091.320 là anh Cứ A S; sinh ngày 10/9/1994, trú tại thôn D, S, T, Điện Biên, từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại này, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký và H xác định người này không phải là người nhận pháo nổ tại huyện T. Bản thân H không biết thông tin, đặc điểm nhận dạng cụ thể của người nhận pháo tại huyện T cũng như không nhớ địa điểm giao hàng, nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H ở lần vận chuyển pháo nổ này.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Tịch thu tiêu hủy: 05 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14x14x14,5 (cm); 03 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 16,5x16x9,5 (cm), 01 giàn pháo nổ kích thước dài, rộng, cao mỗi hộp khoảng 14,7x14,7x13,5 (cm), bao bì nhiều màu sắc in nhiều chữ bằng tiếng nước ngoài; 02 quả pháo nổ kích thước chiều cao khoảng 12 cm, đường kính khoảng 6 cm; 01 tờ giấy bìa cứng màu trắng, bên trên có chữ “1 giàn 2 quả (N) – 0814167143; 8 giàn (T) - 0829091320” được viết bằng mực màu xanh.

Tịch thu hóa giá nộp vào nhân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A của Hoàng Văn H và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung của Ngô Mạnh T.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền là 1.500.000 đồng.

(Vật chứng đang được quản lý tại kho vật chứng của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 25/54 ngày 07/3/2025 và Ủy nhiệm chi số 02 ngày 11/3/2025 giữa Công an tỉnh N và Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định)

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, buộc bị cáo Hoàng Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND+VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND xã Giao Châu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về vận chuyển hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H - Vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger