TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HS - ST Ngày: 21/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Phạm Ngọc Diện – Phó Giám đốc Trung tâm hành chính công Ủy ban nhân dân xã Phúc Thọ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
+ Ông Nguyễn Thanh Hà – Nguyên phó Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lý Văn G, sinh ngày 02/4/2006, tại: Cao Bằng; Nơi ĐKNKTT: thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, nơi cư trú: thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S và bà Vàng Thị V; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;
2. Lý Văn V1, sinh năm 2002 tại: Cao Bằng; Nơi ĐKNKTT: thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, nơi cư trú: thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S và bà Vàng Thị V; có vợ là Đào Thị L, có 02 con sinh năm 2020 và 2024; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;
Bị hại: chị Kon Sa K, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn P, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
Người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1: bà Phùng Thị Tố U và bà Nguyễn Thùy D, là trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Văn G và Lý Văn V1 là anh em ruột. Do cần phương tiện đi lại nên vào sáng ngày 16/01/2024, G rủ Vừ qua tỉnh Lâm Đồng tìm xe mô tô để trộm cắp và V1 đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày, V1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B2 - 691.30 chở G đi từ nhà tại thôn H, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) qua tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến trước nhà bà Kon Sa K thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng); cả hai nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu xám đen dựng trước sân nhưng cửa nhà thì đóng, quan sát xung quanh không có người, G xuống xe và đi bộ vào sân, V1 điều khiển xe mô tô đi thêm khoảng 50m thì tắt máy và đứng ngoài cảnh giới. Giáp đến vị trí chiếc xe, thấy chìa khóa đang cắm sẵn nên dắt xe ra vị trí V1 đứng chờ và nổ máy điều khiển xe vừa trộm được về lại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Khi đi đến khu vực ngã ba chợ thuộc xã Đ, G dừng xe và dùng tay giật biển kiểm soát xe bỏ lại bên đường rồi tiếp tục điều khiển xe đi về. Về đến nhà, G mua 01 dàn áo xe màu trắng để thay dàn áo xe màu xám đen và sử dụng khoảng 06 tháng thì đổi cho V1. Khi sử dụng Vừ tháo biển kiểm soát 36B2-691.30 của xe cũ ráp vào và thay dàn áo xe từ màu trắng sang màu trắng vàng, thay lốp và giảm xóc xe. Đến khoảng 22 giờ ngày 03/3/2025, V1 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông thì bị công an xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra hành chính và phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 36B2 - 691.30 do Lý Văn V1 điều khiển có giấy chứng nhận đăng ký xe không trùng khớp với số khung, số máy. Công an xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) đã tra cứu số khung, số máy và xác định xe mô tô là của bà Kon Sa K nên thông báo cho Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng). Ngày 27/3/2025, bà K có đơn trình báo Công an xã Đ.
Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng vàng, số khung RLCUE3240JY132602, số máy E3X9E370605.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ (cũ), tỉnh Lâm Đồng kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng vàng, số khung RLCUE3240JY132602, số máy E3X9E370605 có giá trị là 9.200.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3- Lâm Đồng để xét xử các bị can Lý Văn G và Lý Văn V1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn V1 từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 17; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Điều 6 và Điều 12 của Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Lý Văn G từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng, quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định và không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét; về án phí đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo cụ thể: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo; tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt. Bởi sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, đồng thời các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, lại chưa có tiền án, tiền sự. Hơn nữa, nhận thức của các bị cáo còn có nhiều hạn chế do mới học đến lớp 3, các bị cáo là người dân tộc thiểu số lại sống ở vùng sâu vùng xa, hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa ý thức được hết hành vi phạm tội. Hơn nữa bị cáo G khi thực hiện hành vi phạm tội còn chưa đủ 18 tuổi. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử thể hiện sự khoan hồng của pháp luật tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm bằng việc áp dụng hình phạt với mức nhẹ nhất đối với các bị cáo.
Các bị cáo xác định lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lâm Đồng), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 đã khai nhận vào khoảng 23 giờ ngày 16/01/2024, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Yamaha sirius, màu trắng vàng, số khung RLCUE3240JY132602, số máy E3X9E370605 nhằm mục đích làm phương tiện đi lại, giá trị tài sản đã được định giá là 9.200.000đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo về hành vi các bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng tài sản của người bị hại để sơ hở, không có sự cảnh giác để lén lút chiếm đoạt với mục đích đem về sử dụng cho nhu cầu cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa, sau khi chiếm đoạt được chiếc xe nói trên, các bị cáo còn có hành vi vứt bỏ biển số xe cũng như thay mới màu áo của yếm xe để tránh bị phát hiện. Hành vi của các bị cáo là hành vi trái pháp luật, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
[4]. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo trong vụ án như sau:
Lý Văn V1 là người trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B2 - 691.30 chở G đi từ tỉnh Đắk Lắk sang tỉnh Lâm Đồng; khi đến trước nhà bà Kon S1 K’Dai thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng), phát hiện nhà đóng cửa nhưng có xe máy đậu ở sân thì V1 là người đứng ngoài cảnh giới. Còn Lý Văn G là người rủ V1 đi tìm xe để lấy trộm đồng thời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội như xuống xe đi vào sân nhà bà K, đến vị trí chiếc xe, thấy chìa khóa đang cắm sẵn nên G dắt xe ra vị trí V1 đứng chờ và nổ máy điều khiển xe vừa trộm được về lại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Trên đường đi, G đã giật biển số xe vứt bỏ, về đến nhà, G mua 01 dàn áo xe màu trắng để thay dàn áo xám đen và sử dụng khoảng 06 tháng thì đổi cho V1.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét thấy các bị cáo đều là người dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Mặt khác, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Mặt khác các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của địa phương, đồng thời lại là dân tộc thiểu số, mới học hết lớp 3 nên nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế, bị cáo V1 có hai con còn nhỏ trong khi bị cáo lại là lao động chính trong gia đình. Vì vậy các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo Lý Văn G chưa đủ 18 tuổi nên chưa nhận thức được hết tác hại về những hành vi mà mình đã thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng Điều 91 của Bộ luật Hình năm 2015 quy định nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội cho bị cáo nhằm giáo dục giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để có cơ hội trở thành người lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm mục đích vụ lợi cá nhân; trong đó Lý Văn G có vai trò chính trong vụ án, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội còn Lý Văn V1 là đồng phạm giúp sức để Lý Văn G thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì G lại chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng phù hợp theo nguyên tắc có lợi cho cả hai bị cáo nhưng phải đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt chính là hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, giao các bị cáo cho cơ quan thi hành án hình sự và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng theo hồ sơ thể hiện thì người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng vàng, số khung RLCUE3240JY132602, số máy E3X9E370605 thu giữ từ các bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Kon Sa K nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 91; Điều 100; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 118 và Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt: bị cáo Lý Văn G 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Lý Văn V1 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao các bị cáo Lý Văn G và Lý Văn V1 cho Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/11/2025), riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 41/2025/HS - ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 41/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn G cùng đồng phạm Trộm cắp tài sản
