Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 09-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuyệt .

Bà Dương Thị Tố Như.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Hoàng P, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1991 tại Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: Số D C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân S, sinh năm 1956 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1965; hiện đều cư trú tại xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/6/2024 cho đến nay. Có mặt.

  2. Họ và tên: Đặng Hoàng L, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1984 tại Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: Số D C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân S, sinh năm 1956 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1965; hiện đều cư trú tại xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế; vợ: Phạm Thị H1, sinh năm 1985 (đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt truy nã và tạm giam từ ngày 31/12/2024 cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Tạ Quang L1, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị (Vắng mặt).
  2. Anh Bùi Hoàng N, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
  3. Bà Phạm Thị P1, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Số C Lý T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 15/10/2023, tại địa chỉ số D C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành kiểm tra và phát hiện có 04 người gồm Đặng Hoàng P, Đặng Hoàng L cùng Tạ Quang L1, sinh năm 1996, thường trú tại khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị và Bùi Hoàng N, sinh năm 1993, thường trú tại ấp T, T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đang thực hiện việc rang, xay các hạt màu nâu, đen bằng các dụng cụ, máy móc rang, xay. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện trên xe ôtô tải, biển số 72C-129.54, nhãn hiệu Huyndai, màu trắng và trong khu vực nhà kho có 85 gói cà phê Chồn Thiên L2 (42,5kg), 68 gói Chồn café (34kg), 08 gói Chồn B (04kg), 58 gói Giọt Đ (58kg), 16 gói Cà phê bột hiệu chồn nâu (08kg), 68 gói Cà phê Thiên Long (34 kg) trên bao bì các sản phẩm này đều ghi xuất xứ Công ty TNHH C1. Ngoài ra, tại khu vực nhà kho nơi sản xuất chế biến còn có 20 bao tải màu trắng chứa các hạt màu nâu, bên ngoài ghi chữ đậu nành; 03 bịch hương Vanila Taro (mỗi bịch 01kg); 04 can dung dịch Caramel (loại can 30 lít); 01 bao chứa bột màu nâu đen; 170 vỏ bao bì có ghi chữ Chồn B, 01 máy xay, 01 máy ép nhiệt, 01 hệ thống máy rang và 01 máy trộn cà phê. Đặng Hoàng P là chủ cơ sở sản xuất không cung cấp được hồ sơ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất chế biến cà phê. Do vậy, Công an thành phố B đã tiến hành tạm giữ và niêm phong những đồ vật trên theo quy định của pháp luật.

Tiếp đó vào lúc 04 giờ 30 phút ngày 21/01/2024 Công an thành phố B phối hợp Công an phường L kiểm tra phát hiện Đặng Hoàng L đang tiếp tục tiến hành sản xuất chế biến cà phê tại địa chỉ số D C, phường L, thành phố B. Tại thời điểm kiểm phát hiện tại máy sấy bên trong có khoảng 150kg đậu nành, tại máy trộn có khoảng 150kg đậu nành, 01 bao tải đựng đậu nành đã rang xay có khối lượng khoảng 30kg, 01 bao tải đựng đậu nành đã rang xay có khối lượng khoảng 19kg và 01 bao cà phê nhân đã rang có khối lượng 7kg. Tại khu vực bên trong xưởng có các loại gói đựng cà phê thành phẩm gồm: 41 (bốn mốt) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram, 22 (hai mươi hai) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng mỗi gói là 500gram, 02 (hai) gói cà phê Chồn Thiên L2 bao bì màu đen đỏ có khối lượng mỗi gói là 500gram, 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg, 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg. Tại khu vực phía trước xưởng có 01 xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71 bên trong xe có các loại gói đựng cà phê thành phẩm gồm: 160 (một trăm sáu mươi) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng mỗi gói là 500gram; 355 (ba trăm năm mươi lăm) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê Trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng mỗi gói là 500gram. Đặng Hoàng L không cấp được hồ sơ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, rang xay cà phê nên Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã tiến hành thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau:

Vào năm 2023 P đi đến thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thuê quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Số D đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng của bà Phạm Thị P1, sinh năm 1969, địa chỉ: Số C L, phường L, thành phố B để thực hiện việc sản xuất cà phê. Sau đó, P đã thành lập Công ty TNHH C1, địa chỉ trụ sở tại D C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, mã số doanh nghiệp S1, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh L cấp, đăng ký lần đầu ngày 19/06/2023. Để thực hiện cho việc sản xuất cà phê bột giả, P đã đặt mua máy móc, dụng cụ để rang, xay, chế biến cà phê gồm 01 máy xay, 01 máy ép nhiệt, 01 hệ thống máy rang và 01 máy trộn cà phê trôi nổi trên thị trường, đặt in bao bì, mua hương Caramel, hương vani tại thành phố Hồ Chí Minh, mua cà phê thứ phẩm loại bể hạt của bà Phạm Thị P1, mua hạt đậu nành tại chợ B, D, Bình Dương về để sử dụng cho hoạt động sản xuất cà phê. Đến tháng 6/2023 P bắt đầu việc sản xuất, chế biến 06 (sáu) loại cà phê bột gồm: Chồn Thiên L2, Cà phê bột hiệu chồn nâu; Cà phê Thiên L2, Chồn B; Chồn café; Giọt Đ. P đã thuê Nguyễn Hoàng L3 là anh trai của P, Tạ Quang L1 và Bùi Hoàng N thực hiện việc sản xuất cà phê cho mình. Quá trình sản xuất cà phê, P là người nắm quy trình sản xuất và chỉ đạo nhân viên thực hiện sản xuất, chế biến cà phê. Công thức để sản xuất cà phê là lấy hạt cà phê thứ phẩm bị bể, nát, rang, xay rồi trộn với bột đậu nành đã rang, xay và thêm hương Caramel, hương V; muối và dầu ăn, tùy vào loại cà phê mà trộn tỷ lệ bột cà phê và bột đậu nành khác nhau. Sau đó đóng gói cà phê vào bao bì và dùng máy hàn nhiệt để hàn miệng bao. Số cà phê sau khi đã sản xuất, P giao cho Đặng Hoàng L và Tạ Quang L1 dùng xe tải biển kiểm soát 75C - 129.54 đi bán tại các tỉnh thành như Lâm Đồng, Bình Thuận, Vũng Tàu, trong đó đã bán cho bà Phạm Thị Thanh T - chủ cửa hàng T3 ở địa chỉ: Số A chợ B1, thành phố B số lượng 25kg cà phê nhãn hiệu Chồn Buôn Mê T1 với giá 50.000đ/1kg (Sau khi mua số cà phê này bà T đã bán hết nên không thu hồi được). Số tiền có được thì P sử dụng để mua các nguyên liệu để tiếp tục sản xuất cà phê. Vào ngày 15/10/2023 khi các đối tượng đang tiếp tục thực hiện việc sản xuất cà phê giả thì bị Cơ quan điều tra Công an thành phố B phát hiện lập biên bản và thu giữ, niêm phong các tang vật theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 1102/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C2 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • - Chồn Thiên L2, số lượng: 79 gói (500g/gói); ký hiệu (C) là 0,079%.
  • - Cà phê bột hiệu Chồn nâu; số lượng: 14 gói (500g/gói); ký hiệu (Cf 02) là 0,026%.
  • - Cà phê Thiên L2, số lượng: 66 gói (500g/gói); ký hiệu (C) là 0,25%.
  • - Chồn Buôn Ma T2, số lượng: 06 gói (500g/gói); ký hiệu (C) là 0,045%.
  • - Chồn cafe, số lượng: 66 gói (500g/gói); ký hiệu (C) là 0,065%.
  • - Giọt Đam M, số lượng: 57 gói (01kg/gói); ký hiệu (C) là 0,083%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 24/KL-HĐĐGTS ngày 05/03/2024 của Hội định giá UBND thành phố B xác định: Tổng giá trị tài sản định giá là 10.757.500đ (mười triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Tiếp đó vào lúc 04 giờ 30 phút ngày 21/01/2024 tại số D C, tổ A, phường L, thành phố B, Công an thành phố B phối hợp Công an phường L kiểm tra phát hiện Đặng Hoàng L, đang tiến hành sản xuất chế biến cà phê. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện tại máy sấy bên trong có khoảng 150kg đậu nành, tại máy trộn có khoảng 150kg đậu nành, ngoài ra có 01 bao tải đựng đậu nành đã rang xay có khối lượng khoảng 30kg, 01 bao tải đựng đậu nành đã rang xay có khối lượng khoảng 19kg và 01 bao cà phê nhân đã rang có khối lượng 7kg. Tại khu vực bên trong xưởng có các loại gói đựng cà phê thành phẩm gồm:

  • - 41 (bốn mươi mốt) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram.
  • - 22 (hai mươi hai) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng mỗi gói là 500gram.
  • - 02 (hai) gói cà phê Chồn Thiên L2 bao bì màu đen đỏ có khối lượng mỗi gói là 500gram. - 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg.
  • - 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg.

Tại khu vực phía trước xưởng có 01 xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71, bên trong xe có các loại gói đựng cà phê thành phẩm gồm:

  • - 160 (một trăm sáu mươi) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng mỗi gói là 500gram.
  • - 355 (ba trăm năm mươi lăm) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng mỗi gói là 500gram. Quá trình kiểm tra Đặng Hoàng L không cung cấp được các giấy tờ có liên quan đên hoạt động sản xuất cà phê. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ, niêm phong toàn bộ các tang vật trên theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định: Sau khi Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã lập biên bản để tiến hành điều tra về hành vi sản xuất cà phê giả của P và những người liên quan thì Đặng Hoàng L đã nảy sinh ý định sẽ tiếp tục sản xuất cà phê bột giả nhằm mục đích để bán ra thị trường. Thực hiện ý định nên L đã tìm mua các nguyên liệu trôi nổi trên thị trường dùng để sản xuất cà phê giả, đến ngày 20/01/2024 L đã tự ý mở cửa bên hông nhà xưởng đang niêm phong theo theo quy định tại địa chỉ số D C, phường L, thành phố B để tiến hành sản xuất cà phê giả nhằm mục đích bán ra thị trường để kiếm lời. Công thức để sản xuất cà phê là 50% cà phê cà phê thứ phẩm bị bể, nát, rang, xay rồi trộn với 50% hạt đậu nành rang xay và 1% đường. Sau đó đóng gói cà phê vào bao bì và dùng máy hàn nhiệt để hàn miệng bao. Số lượng cà phê giả do L tự sản xuất chưa kịp bán ra thị trường thì bị Cơ quan điều tra Công an thành phố B phát hiện và thu giữ. Sau khi hiện hành vi phạm tội thì L đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã. Đến ngày 31/12/2024 thì bắt được bị cáo L.

* Tại Bản kết luận giám định số 1902/KL-KTHS ngày 08 tháng 05 năm 2024 của P2 - Bộ C2 tại TP . kết luận:

  • - 22 (hai mươi hai) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng là 500gram/gói, ký hiệu CP01. Không phát hiện hàm lượng phần trăm C.
  • - 41 (bốn mốt) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng là 500gram/gói, ký hiệu CP02. 1,32g/100g (Giới hạn phát hiện của phương pháp: 5,00 x 10-4 g/100g, đơn vị g/100g tương đương đơn vị %).
  • - 160 (một trăm sáu mươi) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng là 500gram/gói, ký hiệu CP03. Không phát hiện hàm lượng phần trăm C.
  • - 355 (ba trăm năm mươi lăm) gói cà phê Thiên Long nguyên chất- Cà phê Trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng là 500gram/gói, ký hiệu CP04. Không phát hiện hàm lượng phần trăm C.
  • - 02 (hai) gói cà phê Chồn Thiên L2 bao bì màu đen đỏ có khối lượng là 500gram/gói, ký hiệu CP05. Không phát hiện hàm lượng phần trăm C.

* Tại Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 03 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác định: Tổng giá trị tài sản định giá là 20.900.000đ (hai mươi triệu chín trăm ngàn đồng).

Về vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ của Đặng Hoàng P: 77 (bảy mươi bảy) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Thiên L2”, khối lượng 500g/bịch; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Café”, khối lượng 500g/bịch được; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê Thiên Long”, khối lượng 500g/bịch; 55 (năm mươi lăm) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Giọt Đam Mê”, khối lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Buôn Ma T2”, khối lượng 500g/ bịch; 12 (mười hai) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê bột hiệu chồn nâu”, khối lượng 500g/bịch; 17 (mười bảy) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 50kg/bao; 03 (ba) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 30kg/bao; 08 (tám) bao màu trắng nghi là hạt đậu nành đã pha trộn hương liệu, là thành phẩm sau khi rang, chưa xay; 01 (một) bao bột cà phê màu nâu đen nghi là cà phê vụn sau khi đã xay được đóng trong bao tải màu trắng, khối lượng 18kg; 03 (ba) bịch hương vanila Tarobao (phụ gia thực phẩm) bao bì màu trắng, có ghi chữ Tastepoint, có xuất xứ Trung Quốc, trọng lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) can dung dịch C4 (phụ gia thực phẩm, nước đường đã qua xử lý) xuất xứ Trung Quốc, được đựng trong can màu trắng; 170 vỏ bao bì có ghi chữ Chồn B; 01 (một) máy (lò) rang sấy đậu, cà phê đã qua sử dụng; 01 (một) máy đảo nguyên liệu (đã qua sử dụng); 01 (một) máy xay cà phê (đã qua sử dụng); 01 (một) máy ép bao bì (đã qua sử dụng); 01 (một) Xe ô tô tải, biển số 75C-129.54, nhãn hiệu Huyndai, số loại Porter II, màu trắng.

Đã thu giữ sau giám định của Đặng Hoàng L: 39 (ba mươi chín) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram; 20 (hai mươi) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng mỗi gói là 500gram; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg; 152 (một trăm năm hai) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng mỗi gói là 500gram; 337 (ba trăm ba bảy) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng mỗi gói là 500gram; 01 (một) xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71.

Cáo trạng số: 58/CT-VKSBL ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Đặng Hoàng P và Đặng Hoàng L về tội “Sản suất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng P và Đặng Hoàng L phạm tội “Sản suất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng P từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng L từ 30 đến 36 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 77 (bảy mươi bảy) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Thiên L2”, khối lượng 500g/bịch; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Café”, khối lượng 500g/bịch; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê Thiên Long”, khối lượng 500g/bịch; 55 (năm mươi lăm) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Giọt Đam Mê”, khối lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Buôn Ma T2”, khối lượng 500g/ bịch; 12 (mười hai) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê bột hiệu chồn nâu”, khối lượng 500g/bịch; 39 (Ba mươi chín) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram; 20 (hai mươi) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng mỗi gói là 500gram; 152 (một trăm năm hai) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng mỗi gói là 500gram; 337(ba trăm ba bảy) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng mỗi gói là 500gram; 17 (mười bảy) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 50kg/bao; 03 (ba) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 30kg/bao; 08 (tám) bao màu trắng nghi là hạt đậu nành đã pha trộn hương liệu, là thành phẩm sau khi rang, chưa xay; 01 (một) bao bột cà phê màu nâu đen nghi là cà phê vụn sau khi đã xay được đóng trong bao tải màu trắng, khối lượng 18kg; 03 (ba) bịch hương vanila Tarobao (phụ gia thực phẩm) bao bì màu trắng, có ghi chữ Tastepoint, có xuất xứ Trung Quốc, trọng lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) can dung dịch C4 (phụ gia thực phẩm, nước đường đã qua xử lý) xuất xứ Trung Quốc, được đựng trong can màu trắng; 170 vỏ bao bì có ghi chữ Chồn B; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) máy (lò) rang sấy đậu, cà phê đã qua sử dụng; 01 (một) máy đảo nguyên liệu (đã qua sử dụng); 01 (một) máy xay cà phê (đã qua sử dụng); 01 (một) máy ép bao bì (đã qua sử dụng); 01 (một) Xe ô tô tải, biển số 75C-129.54, nhãn hiệu Huyndai, số loại Porter II, màu trắng; 01 (một) xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71.

Đối với số tiền 1.250.000 đồng bị cáo Đặng Hoàng P đã thu lợi bất chính từ việc bán cà phê bột giả, đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Hoàng P không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Đặng Hoàng L ban đầu thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, cho rằng lần thứ 2 (ngày 21/01/2024) bị cáo không phạm tội, số cà phê trên xe ô tô của bị cáo có nguồn gốc là do bị cáo P sản xuất nhưng Cơ quan điều tra chưa thu giữ hết, đến khi bị cáo phát hiện ra còn trong kho thì dự định mang đi giao nộp cho Cơ quan điều tra. Tuy nhiên, qua quá trình xét hỏi bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội trong cả 02 lần như bản cáo trang đã truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử bị cáo dưới mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023 tại số nhà D C, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đặng Hoàng P là giám đốc công ty TNHH C1 đã cùng với Đặng Hoàng L thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán 303 gói cà phê bột giả gồm 05 loại: Chồn Thiên L2; Cà phê bột hiệu Chồn nâu; Cà phê Thiên L2; Chồn B; Chồn cafe; Giọt Đ có tổng giá trị là 10.757.500đ (mười triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm đồng) và thu lợi được số tiền là 1.250.000₫ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Đối với Đặng Hoàng L, vào ngày 21/01/2024 tiếp tục thực hiện hành vi sản xuất 580 gói cà phê bột giả gồm 04 loại: Cà phê Thiên Long; Chồn nâu; Chồn B; Cà phê Thiên Long nguyên chất có tổng giá trị là 20.900.000đ (hai mươi triệu chín trăm ngàn đồng) nhằm mục đích bán ra thị trường để thu lợi bất chính.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Hoàng P và Đặng Hoàng L đã phạm vào tội “Sản suất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.

- Tình tiết tăng nặng:

+ Bị cáo Đặng Hoàng P không có tình tiết tăng nặng.

+ Bị cáo Đặng Hoàng L bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo:

- Đối với lần phạm tội đầu có tính chất đồng phạm nhưng không thuộc trường hợp đồng phạm có tổ chức, trong đó bị cáo P là người trực tiếp đặt mua máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, thuê và chỉ đạo bị cáo L, Tạ Quang L1 và Bùi Hoàng N thực hiện việc sản xuất cà phê giả cho mình; giao cho những người này dùng xe tải biển kiểm soát 75C - 129.54 đi bán cà phê giả. Vì vậy, bị cáo P có vai trò chính, còn bị cáo L1 là đồng phạm giúp sức.

- Đối với lần phạm tội thứ 2 thì không có tính chất đồng phạm, chỉ một mình bị cáo L1 thực hiện tất cả các công đoạn của tội phạm mà không có ai biết, giúp sức.

[5] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật; đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách quản lý thị trường của Nhà nước đối với thực phẩm, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà sản xuất và người tiêu dùng, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 193 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với các vật chứng gồm: 77 (bảy mươi bảy) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Thiên L2”, khối lượng 500g/bịch; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Café”, khối lượng 500g/bịch; 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê Thiên Long”, khối lượng 500g/bịch; 55 (năm mươi lăm) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Giọt Đam Mê”, khối lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Buôn Ma T2”, khối lượng 500g/bịch; 12 (mười hai) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê bột hiệu chồn nâu”, khối lượng 500g/bịch; 39 (Ba mươi chín) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram; 20 (hai mươi) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng có khối lượng mỗi gói là 500gram; 152 (một trăm năm hai) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu có khối lượng mỗi gói là 500gram; 337 (ba trăm ba bảy) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê trộn loại đặc biệt bao bì màu bạc có khối lượng mỗi gói là 500gram. Xét thấy, đây là số lượng cà phê giả mà các bị cáo đã sản xuất ra nhưng chưa kịp tiêu thụ; không đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các vật chứng gồm: 17 (mười bảy) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 50kg/bao; 03 (ba) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 30kg/bao; 08 (tám) bao màu trắng nghi là hạt đậu nành đã pha trộn hương liệu, là thành phẩm sau khi rang, chưa xay; 01 (một) bao bột cà phê màu nâu đen nghi là cà phê vụn sau khi đã xay được đóng trong bao tải màu trắng, khối lượng 18kg; 03 (ba) bịch hương vanila Tarobao (phụ gia thực phẩm) bao bì màu trắng, có ghi chữ Tastepoint, có xuất xứ Trung Quốc, trọng lượng 1kg/bịch; 04 (bốn) can dung dịch C4 (phụ gia thực phẩm, nước đường đã qua xử lý) xuất xứ Trung Quốc, được đựng trong can màu trắng; 170 vỏ bao bì có ghi chữ Chồn B; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg; 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg. Xét thấy, đây là nguyên liệu để các bị cáo sản xuất cà phê giả; hiện nay không đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm nên cũng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) máy (lò) rang sấy đậu, cà phê đã qua sử dụng; 01 (một) máy đảo nguyên liệu (đã qua sử dụng); 01 (một) máy xay cà phê (đã qua sử dụng); 01 (một) máy ép bao bì (đã qua sử dụng); 01 (một) xe ô tô tải, biển số 75C-129.54, nhãn hiệu Huyndai, số loại Porter II, màu trắng; 01 (một) xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71. Xét thấy, đây là công cụ và phương tiện để các bị cáo sản xuất, tiêu thụ cà phê giả, hiện vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 1.250.000₫ mà bị cáo P đã thu được từ việc bán cà phê giả. Xét thấy, đây là số tiền có được từ hành vi phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

· Đối với hành vi của Tạ Quang L1, và Bùi Hoàng N là những người được P thuê sản xuất và đi bán cà phê giả. Quá trình điều tra xác định, khi được P thuê sản xuất và đi bán thì những người này không biết việc P sản xuất cà phê bột giả. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với L1 và N là đúng theo quy định của pháp luật.

· Đối với bà Phạm Thị P1 là người đã cho P thuê đất và bán cà phê loại thứ phẩm cho P để sản xuất cà phê giả. Quá trình điều tra xác định khi cho thuê đất và bán cà phê cho P thì bà P1 không biết P sử dụng vào mục đích sản xuất cà phê bột giả. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà P1 là đúng theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Hoàng P và Đặng Hoàng L phạm tội “Sản suất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2024.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2024.

  2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    * Tịch thu tiêu hủy:

    • - 77 (bảy mươi bảy) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Thiên L2”, khối lượng 500g/bịch.
    • - 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Café”, khối lượng 500g/bịch.
    • - 64 (sáu mươi bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê Thiên Long”, khối lượng 500g/bịch.
    • - 55 (năm mươi lăm) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Giọt Đam Mê”, khối lượng 1kg/bịch.
    • - 04 (bốn) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Chồn Buôn Ma T2”, khối lượng 500g/bịch.
    • - 12 (mười hai) bịch cà phê có xuất xứ trên bao bì của Công ty TNHH C3 “Cà phê bột hiệu chồn nâu”, khối lượng 500g/bịch.
    • - 17 (mười bảy) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 50kg/bao.
    • - 03 (ba) bao nghi là hạt đậu nành có bao bì màu trắng, khối lượng 30kg/bao.
    • - 08 (tám) bao màu trắng nghi là hạt đậu nành đã pha trộn hương liệu, là thành phẩm sau khi rang, chưa xay.
    • - 01 (một) bao bột cà phê màu nâu đen nghi là cà phê vụn sau khi đã xay được đóng trong bao tải màu trắng, khối lượng 18kg.
    • - 03 (ba) bịch hương vanila Tarobao (phụ gia thực phẩm) bao bì màu trắng, có ghi chữ Tastepoint, có xuất xứ Trung Quốc, trọng lượng 1kg/bịch.
    • - 04 (bốn) can dung dịch C4 (phụ gia thực phẩm, nước đường đã qua xử lý) xuất xứ Trung Quốc, được đựng trong can màu trắng.
    • - 170 vỏ bao bì, trên bao bì ghi sản xuất tại Công ty TNHH C1, còn mới, chưa sử dụng. Bao bì màu đen, có ghi chữ Chồn Buôn Ma T2.
    • - 39 (ba mươi chín) gói cà phê Thiên Long 100% nguyên chất bao bì màu đen có khối lượng mỗi gói là 500gram.
    • - 20 (hai mươi) gói cà phê Chồn Buôn Ma Thuột bao bì màu đen vàng.
    • - 152 (một trăm năm hai) gói cà phê Chồn Nâu bao bì màu đen nâu.
    • - 337 (ba trăm ba bảy) gói cà phê Thiên Long nguyên chất - Cà phê trộn loại đặc biệt.
    • - 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 13kg.
    • - 01 (một) can nhựa bên trong có chứa dung dịch màu đen có khối lượng 7,5kg.

    * Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước:

    • - 01 (một) máy (lò) rang sấy đậu, cà phê (đã qua sử dụng).
    • - 01 (một) máy đảo nguyên liệu (đã qua sử dụng).
    • - 01 (một) máy xay cà phê (đã qua sử dụng).
    • - 01 (một) máy ép bao bì (đã qua sử dụng).
    • - 01 (một) xe ô tô tải, biển số 75C-129.54, nhãn hiệu Huyndai, số loại Porter II, màu trắng, số khung: KMFZSS7P9U543102, số máy: D4CB9537672 (đã qua sử dụng).
    • - 01 (một) xe ô tô hiệu Ford Transit mang biển kiểm soát 51D-904.71, số máy: HFFA7Y24191, số khung: WFOFXXMCVF7Y24191 (đã qua sử dụng).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2024 và ngày 27/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

    * Buộc bị cáo Đặng Hoàng P phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.250.000₫ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Đặng Hoàng P và Đặng Hoàng L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2)
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1)
  • - VKSND TP. Bảo Lộc (1)
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1)
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng (1)
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1)
  • - Bị cáo (2)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hoàng L và đồng phạm phạm tội Sản xuất buôn bán hàng giả là thực phẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger