Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 25 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hải

Bà Trần Thị Hậu

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Phạm Văn H1, sinh ngày 22/8/2006 tại tỉnh Nam Định; hộ khẩu thường trú: xóm I, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không.

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  2. Phạm Văn M, sinh ngày 20/11/1980 tại tỉnh Nam Định; hộ khẩu thường trú: xóm I, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn A, sinh năm 1954 và bà Vũ Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1979 và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 2001 và con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: Không.

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Đinh Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của ông D: Bà Phan Thị D1, sinh năm 1975 (vợ ông D);

Đinh Thị Cẩm H2 và Đinh Thị Cẩm G (con của ông D) (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn M là cha của Phạm Văn H1 và biết H1 không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11/8/2024, M nhờ H1 điều khiển xe mô tô biển số: 72E1-059.47 của H1 đi giao tôm ở phường H, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, khi H1 điều khiển xe quay về đến khu vực đoạn đường K đường H-T thuộc tổ A, ấp D, xã T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên đã xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số: 72K7- 7526 do ông Đinh Văn D điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, đang chuyển hướng qua trái để vào khu xử lý rác thải xã T. Hậu quả, ông D và H1 bị thương.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn H1, Phạm Văn M khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Tại Kết luận giám định số: 499/KLTTCT-PYBRVT ngày 04/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Văn D tại thời điểm giám định là: 73%. Về vật tác động, cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật rắn tày. Cơ chế va đập. Sau tai nạn, H1 cũng bị thương xây sát nhẹ tự mua thuốc về nhà điều trị, không điều trị tại cơ sở y tế.

Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông xảy ra tại K đường H - T thuộc tổ A, ấp D, xã T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đây là đường hai chiều, gồm bốn làn đường, trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11m80.

Lấy mép đường bên phải của đường H - T theo hướng lưu thông đi ra QL51 làm lề chuẩn. Lấy cột mốc QL51 bên trong lề đường (đối diện lề chuẩn) làm mốc cố định.

  • + Vết cày số 1 trên mặt đường, có điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 05m85 và cách lốc máy xe mô tô biển số: 72K7-7526 là 14m.
  • + Vết cày số 2 trên mặt đường có điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 06m70 và cách lốc máy xe mô tô biển số: 72E1-059.47 là 15m30.
  • + Xe mô tô biển số: 72K7 - 7526 ngã đổ sang trái xuống mặt đường, đầu xe hướng về phía đi vào khu xử lý chất thải T. T1 trục bánh trước cách lề chuẩn là 06m25, tâm trục bánh sau cách lề chuẩn là 05m30.
  • + Xe mô tô biển số: 72E1-059.47 ngã đổ sang trái xuống mặt đường, đầu xe hướng về phía QL51. T1 trục bánh trước cách lề chuẩn là 7m55, tâm trục bánh sau cách lề chuẩn là 8m60.
  • + Gờ giảm tốc màu vàng ở trên hai làn đường sát lề chuẩn và ở trước điểm sau vết cày số 1 với bề rộng 6m00.
  • + Khu vực va chạm được xác định ở phía trước gờ giảm tốc nêu trên, cách đầu vết cày số 1 là 2m30, cách đầu vết cày số 2 là 5m80, cách lề chuẩn là 5m90, cách mốc cố định là 8m80 và cách lốc máy xe mô tô biển số: 72K1-059.47 là 21m20.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn nêu trên là do lỗi hỗn hợp, cụ thể: Đinh Văn D điều khiển xe mô tô biển số 72K7-7526 chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây hậu quả làm Phạm Văn H1 bị thương. Hành vi của Đinh Văn D đã vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Phạm Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số 72E1-059.47 không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình, vi

3

phạm quy định tại Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT, Khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm ông Đinh Văn D bị thương với tỉ lệ thương tích là 73%.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn M đã hỗ trợ, bồi thường cho ông Đinh Văn D số tiền 130.000.000 đồng, gia đình ông D đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng-đen-đỏ, biển số 72E1-059.47 của ông Phạm Văn M và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển số 72K7-7526, của ông Đinh Văn D đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phú Mỹ) bảo quản chờ xử lý.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn của ông Đinh Văn D dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm cho H1 bị thương: Qua điều tra xác định sau tai nạn do thương tích nhẹ H1 không điều trị tại cơ sở y tế nên không cung cấp được các tài liệu, hồ sơ bệnh án phục vụ cho công tác giám định. Hơn nữa, H1 cũng làm đơn xin từ chối giám định thương tích do đó không có cơ sở để xác định tỷ lệ thương tích của H1. Như vậy, hành vi của ông Đinh Văn D không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT – VKSPM ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P) đã truy tố Phạm Văn H1 về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, truy tố Phạm Văn M về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Phạm Văn H1 phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Phạm Văn M phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”;

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn H1 mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn M 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng-đen-đỏ, biển số 72E1-059.47 của ông Phạm Văn M và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển số 72K7-7526, của ông Đinh Văn D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

4

Tại phiên tòa, Phạm Văn H1, Phạm Văn M không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; các bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Xét lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và phương tiện, kết luận giám định thương tích nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 07 giờ ngày 11/8/2024, tại nhà của Phạm Văn M thuộc tổ A khu phố P, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Văn M đã có hành vi giao xe mô tô biển số 72E1-059.47 cho Phạm Văn H1 điều khiển mặc dù biết rõ H1 không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, tại K đường H-T thuộc tổ A, ấp D, xã T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô biển số 72E1-059.47 do Phạm Văn H1 (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển với xe mô tô biển số 72K7-7526 do ông Đinh Văn D điều khiển chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả: ông D bị thương với tỷ lệ thương tật là 73%.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Phạm Văn H1 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, hành vi của Phạm Văn M đã phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo:

Bị cáo M giao xe mô tô cho bị cáo H1 điều khiển mặc dù biết rõ H1 không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định, bị cáo H1 điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường nhưng không tuân thủ đúng quy định pháp luật về giao thông dẫn đến hậu quả gây tổn hại sức khỏe cho ông D với tỷ lệ thường tích

5

73%. Mặc dù các bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra.

Về lỗi: Lỗi trong vụ tai nạn giao thông được xác định là lỗi hỗn hợp của cả bị cáo và bị hại, cụ thể Đinh Văn D điều khiển xe mô tô biển số 72K7-7526 chuyển hướng không đảm bảo an toàn. Phạm Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số 72E1-059.47 không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, Phạm Văn H1, Phạm Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho ông Đinh Văn D số tiền 130.000.000 đồng. Gia đình ông D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó cần áp dụng điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3]. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

[5]. Về mức hình phạt:

Đối với bị cáo H1: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là lỗi hỗn hợp của bị cáo và bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã gây ra. Thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Cần áp dụng quy định tại Điều 91, Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo có quy định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo M: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.

[6]. Về việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phạm Văn M: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc, thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã hỗ trợ, bồi thường cho ông Đinh Văn D số tiền 130.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng-đen-đỏ, biển số 72E1-059.47, số máy: JC43E6240846, số khung: RLHJC4320BY305227 qua xác minh, giấy tờ xe đứng tên bà Hoàng Thị Mỹ T2, bà T2 xác định đã bán chiếc xe trên, tại biên bản lấy lời kai ngày 07/12/2024 đối với Phạm Văn M xác định xe mô tô mang biển số 72E1-059.47 là do M mua vào năm 2022 tại cửa hàng cầm đồ thuộc phường P, thị xã P (nay là thành

6

phố P), từ khi bị cáo M sử dụng chiếc xe trên đến nay không có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe. Do đó có căn cứ xác định chiếc xe trên là tài sản của bị cáo M nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển số 72K7-7526, số máy: 3S31008634, số khung: RLCS3S3105Y008634 qua xác minh, xác định là tài sản của anh Đỗ Trọng Q, ông O xác định đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/11/2024 của người đại diện hợp pháp của bị hại – bà Đinh Thị Cẩm H2 xác định xe mô tô mang biển số 72K7-7526 là tài sản của ông Đinh Văn D mua lại của một người đàn ông không rõ nhân thân. Từ khi ông D sử dụng chiếc xe trên đến nay không có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe. Do đó có căn cứ xác định chiếc xe trên là tài sản của bị cáo D nên cần trả lại cho ông D.

[9]. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H1, Phạm Văn M phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”;

  1. Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt Phạm Văn H1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 25/3/2025).

    Giao bị cáo Phạm Văn H1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Phạm Văn H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

  2. Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt Phạm Văn M 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an tỉnh B nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.

    Giao bị cáo Phạm Văn M cho Uỷ ban nhân phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

7

  1. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Trả lại cho bị cáo Phạm Văn M 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng đen đỏ, biển số: 72E1-059.47, số máy: JC43E – 6240846, số khung: RLHJC4320BY305227, xe đã cũ, rỉ sét, hư hỏng và không hoạt động.

    Trả lại cho ông Đinh Văn D 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xanh, biển số 72K7-7526 số máy: 3S31008634, số khung: RLCS3S3105Y008634, xe đã cũ và không hoạt động.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 52/BB-CCTHADS ngày 05/3/2025 giữa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phú Mỹ).

  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Văn H1, Phạm Văn M, mỗi người phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Phú Mỹ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh BR – VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Phòng PV06 công an tỉnh BR-VT;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vụ án hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H phạm tội Đ260, Phạm Văn M phạm tội Đ264
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger