Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 19/3/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phụng;
  2. Bà Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Long - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Xuân T, sinh ngày 30/9/2006, tại: Thái Bình; trú tại: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Duy S (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 27/12/2024 chuyển tạm giam đến nay.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Cao Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  2. Anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Trần Tuấn Đ1, sinh năm 1996, trú tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  2. Anh Nguyễn Sơn Ngọc M, sinh năm 1996, trú tại số nhà C, ngõ A, đường H, tổ C, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 17/12/2024, Vũ Xuân T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen không đeo biển kiểm soát từ nhà đến khu vực cầu T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình thì gặp và mua được của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy loại MDMA và 01 túi ma túy loại Ketamine với giá 2.100.000 đồng rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi T đi đến khu vực ngã tư đường T giao với đường tránh S2 thuộc thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Trần Tuấn Đ1 và anh Nguyễn Sơn Ngọc M, T tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 02 viên nén màu xanh (ký hiệu M1) và 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) và khai nhận đó là ma túy, loại MDMA và Ketamine của T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, T tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh, đã cũ. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người T và xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen không đeo biển kiểm soát nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Kết luận giám định số 1860/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật M1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,9620 gam. Mẫu vật M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,8502 gam.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKSTPTB ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2024.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy số loại MDMA và loại Ketamine số còn lại sau giám định.
  • 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen, không đeo biển kiểm soát cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra sẽ xử lý sau.
  • Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh đã cũ.

* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản kiểm tra và quản lý điện thoại; Biên bản quản lý và kiểm tra xe; Kết luận giám định số 1860/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ ngày 17/12/2024, tại khu vực ngã tư đường T giao với đường tránh S2 thuộc thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang Vũ Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi ma túy, loại loại MDMA có khối lượng 0,9620 gam và 01 túi ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,8502 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo tàng trữ 0,9620 gam ma túy, loại MDMA và 0,8502 gam ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng. Tính quy đổi theo Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì chưa vượt quá 100%, cụ thể:

  • Tỷ lệ % về khối lượng Ketamine: 0,8502/20 x 100% = 4,251%
  • Tỷ lệ % về khối lượng của MDMA: 0,9620/5 x 100% = 19,24%

Tổng tỷ lệ % về khối lượng của các chất ma túy Ketamine và MDMA là: 4,251% + 19,24% = 23,49% (dưới 100%)

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Về vật chứng của vụ án:

[6.1] Số ma túy loại MDMA và loại Ketamine thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen, không đeo biển kiểm soát, số máy: JC43E- ...4 (số máy đã bị đục xóa); số khung RLHJC4324BY518990, T khai mua của người không biết tên, tuổi, địa chỉ tại cổng Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình với giá 3000.000đồng cách ngày bị bắt hơn 02 năm. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Hoàng Cao Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Năm 2019, anh Đ cho anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (anh Đ là anh rể của anh Tuấn A) chiếc xe trên. Anh Tuấn A1 sử dụng đến năm 2022 thì bị mất nhưng đã không trình báo cơ quan chức năng; Số chữ, chữ số trên thân máy bị tẩy xóa. Cơ quan Điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra xác minh theo quy định;

[6.3] Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh đã cũ không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng ngoài 30 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực cầu T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 01 (một) năm 09 (chín) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại MDMA còn lại sau giám định là 0,9142 gam ký hiệu M1 và số ma túy loại Ketamin còn lại sau giám định là 0,7823 gam ký hiệu M2 đều trong phong bì số 1860/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.

3.2. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen, không đeo biển kiểm soát cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra sẽ xử lý sau.

3.3 Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh đã cũ.

(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 27/02/2025).

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/3/2025) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ/.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án ND tỉnh TB;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND TP Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc B - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger