Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 18 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyền và ông Phạm Đức Đông.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân K, sinh năm 1993 tại Thái Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường L, TP P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1973; vợ Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1995; con: có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  2. Trần Bách D1, sinh năm 1970 tại Hà Nam; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường L, tổ D, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty cổ phần T3; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;Đảng, đoàn thể:Đảng viên Đ(đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); con ông Trần Đăng D2, sinh năm 1940 và bà Bùi Thị L (đã chết); vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; con: có 03 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trứ”, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông CHENG, CHING-HISANG, sinh năm 1965; địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH K2 (Việt Nam), lô CN05, khu công nghiệp H, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Vũ Thị U, sinh năm 1999; địa chỉ: Số nhà I, đường N, tổ dân phố V, thị xã D, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Trần Thị Ánh H1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số nhà A, tổ D, phường M (nay là tổ dân phố số D, phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ F, phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Chị Cung Thị Thanh N, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà B, tổ C, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người phiên dịch: Bà Trương Thị M1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn A V, huyện B, tỉnh Hà Nam; công tác viên Phòng Tư pháp thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH K2 (viết tắt là Công ty K2) là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; địa chỉ tại: Lô C, Khu công nghiệp Đ, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 22/10/2020 và Ban quản lý các Khu công nghiệp T cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư lần đầu ngày 14/10/2020. Người đại diện theo pháp luật của công ty từ tháng 10/2020 đến tháng 7/2023 là ông WANG JUI - PIN, quốc tịch: Đài Loan; chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên; từ tháng 10/2023 đến nay là ông CHENG CHING - HSIANG, quốc tịch: Đài Loan; chức vụ: Tổng Giám đốc.

Năm 2021, Công ty K2 triển khai xây dựng Dự án A1 (giai đoạn 1 gồm nhà văn phòng, xưởng sản xuất và các công trình phục vụ sản xuất) đã ký hợp đồng với các nhà thầu tư vấn xây dựng, gồm:

- Ngày 15/11/2020, Công ty K2 ký hợp đồng tư vấn thiết kế với Công ty TNHH T4 về việc tư vấn thiết kế và xin giấy phép xây dựng dự án. Sau đó, ngày 20/11/2020, Công ty TNHH T4 đã ký hợp đồng với Công ty TNHH P (địa chỉ: Tòa nhà G, đường M, phường M, quận N, Hà Nội) đại diện ký hợp đồng là QIAN CHENG, Quốc tịch: Đài Loan, chức vụ: Giám đốc về việc lập hồ sơ thiết kế Dự án A1.

- Ngày 26/7/2021, Công ty K2 ký hợp đồng thi công xây dựng với Công ty TNHH T5 (viết tắt là Công ty T5 - có địa chỉ tại khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương) đại diện ký hợp đồng là ông WU CHING CHIH, Quốc tịch: Đài Loan, chức vụ: Tổng Giám đốc để thi công Dự án AVC TechnolyogViệt Nam.

- Đối với hợp đồng tư vấn giám sát: Lãnh đạo Công ty K2 đã giao cho nhân viên của công ty là chị Vũ Thị U (sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố V, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam) liên hệ Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam đề nghị hỗ trợ tìm đơn vị có uy tín và có đủ năng lực theo quy định của pháp luật Việt Nam để ký hợp đồng tư vấn giám sát dự án. Chị U đã được anh Nguyễn Thái S - Phó trưởng phòng, Phòng quản lý quy hoạch và xây dựng, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam giới thiệu một số đơn vị tư vấn giám sát để chủ đầu tư nghiên cứu lựa chọn, trong đó có Công ty cổ phần T3 (viết tắt là Công ty T3), địa chỉ: đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Công ty T3 được Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký lần đầu ngày 13/11/2008; được Sở Xây dựng tỉnh H cấp Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng số HNA-00017375 ngày 26/10/2018. Tại thời điểm thành lập công ty có 03 cổ đông chính và một số cổ đông góp vốn nhỏ nhưng sau đó các cổ đông đã rút vốn dần và không tham gia hoạt động kinh doanh của công ty. Từ năm 2016 đến nay chỉ còn Trần Bách D1 - sinh năm 1970, trú tại tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là tổ D, phường C, thành phố P) làm Giám đốc; người đại diện pháp luật và điều hành hoạt động của công ty.

Sau khi được anh Nguyễn Thái S giới thiệu và cho số điện thoại của Nguyễn Xuân K (là người đã có thời gian làm việc tại Công ty T3), chị U đã liên hệ với K trao đổi về việc Công ty K2 muốn ký hợp đồng thuê Công ty T3 làm đơn vị tư vấn giám sát công trình. Mặc dù thời điểm này K đã nghỉ việc tại Công ty T3 nhưng với mục đích muốn được hưởng lợi trong số tiền thuê đơn vị tư vấn giám sát của Công ty K2 nên K nhận lời giúp chị U và Công ty K2 trong việc ký kết hợp đồng với Công ty T3. Sau đó K đến gặp Trần Bách D1, cả hai bàn bạc thống nhất D1 lấy tư cách Giám đốcCông ty H2 đứng ra ký hợp đồng tư vấn giám sát với Công ty K2, K sẽ tự soạn thảo những tài liệu, thủ tục cần thực hiện thuộc nhiệm vụ của đơn vị giám sát chuyển cho D1 ký, đóng dấu Công ty T3 vào các tài liệu này, mọi việc còn lại K chịu trách nhiệm liên hệ làm việc với chủ đầu tư để hoàn thiện hồ sơ theo quy định; số tiền thu được từ hợp đồng tư vấn giám sát K được hưởng 75%, D1 được hưởng 25%.

Sau khi thống nhất với Trần Bách D1, K đề nghị chị U cung cấp các thông tin của chủ đầu tư rồi soạn thảo Hợp đồng tư vấn số 20210530-1/TL-THT đề ngày 30/5/2021 (bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc) với nội dung Công ty K2 (Bên A)thuê Công ty T3 (Bên B) tư vấn giám sát thi công dự án các công trình Dự án AVC TechnolyogViệt Nam theo giấy phép xây dựng đã được cấp với giá

trị hợp đồng 453.600.000 đồng và mang đến Công ty T3 để D1 ký, đóng dấu. Do lúc đó D1 không có mặt tại công ty nên K đã gọi điện báo cho D1 biết. D1 điện thoại chỉ đạo chị Cung Thị Thanh N làm ở bộ phận hành chính đưa dấu chữ ký, dấu chức danh của Trần Bách D1 và dấu tròn của Công ty T3 cho K tự đóng vào mục Đại diện Bên B trên hợp đồng. Sau đó, K đưa hợp đồng cho chị Vũ Thị U để trình ông Cheng Chinh H3 - Tổng Giám đốc Công ty K2 ký vào mục Đại diện Bên A.

Trong quá trình Công ty K2 triển khai xây dựng Dự án A1, để hoàn thiện các biên bản nghiệm thu hoàn thành từng bộ phận công trình xây dựng, K đã hỏi và được D1 bảo đưa tên ông Trần Xuân T1 (sinh năm 1975, là nhân viên Công ty T3) là người thực hiện tư vấn giám sát nên K đã soạn thảo các biên bản nghiệm thu trong đó có thành phần tham gia đại diện đơn vị tư vấn giám sát Công ty T3 là Trần Bách D1 - chức vụ Giám đốc và ông Trần Xuân T1 - chức vụ: Tư vấn giám sát trưởng. Về nội dung giám sát và nghiệm thu, K1 trên số liệu thông tin liên quan đến dự án, các hạng mục xây dựng, bản vẽ thiết kế do Vũ Thị U cung cấp để soạn thảo báo cáo, biên bản nghiệm thu từng hạng mục công trình. Sau đó, được sự đồng ý của Trần Bách D1, chị Cung Thị Thanh N đưa cho K dấu chữ ký, dấu chức danh của D1 và dấu tròn của Công ty T3 để đóng dấu vào các tài liệu phía bên đại diện đơn vị tư vấn giám sát rồi chuyển lại cho chị U để xin chữ ký, dấu của chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và đơn vị thi công.

Hồ sơ tư vấn giám sát (hồ sơ quản lý chất lượng công trình) Dự án Al do Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 lập khống gồm 80 biên bản và 01 báo cáo kết quả giám sát thi công, cụ thể:

  • - 01 (một) Biên bản bàn giao mặt bằng công trình xây dựng, công trình: dự án AVC Technology;
  • - 01 (một) Biên bản nghiệm thu vật liệu đầu vào, công trình: dự án AVC T;
  • - 77 (Bảy mươi bảy) biên bản nghiệm thu hoàn thành bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng, công trình dự án A1, bao gồm các hạng mục: Thử tải; Ép thử nghiệm; Ép cọc đại trà; Nhà văn phòng, nhà ăn (phần móng); Nhà xưởng V2A; Nhà xưởng V2B; Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3A; Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3B; Bể nước ngầm (phần móng); Bể nước ngầm (phần kết cấu thô); T6 (phần móng); Trạm Nito &Agron (phần kết cấu thô); Trạm Nito và A (phần hoàn thiện); Nhà cầu 1-3 (phần móng); T6 (hoàn thành); Trạm khí hydro (phần móng); Trạm khí hydro (phần kết cấu thô); Nhà cầu 1-3 (phần kết cấu thô); Bể nước thải sản xuất (phần móng); Trạm khí hydro (phần hoàn thiện); Bể nước thải sinh hoạt (phần móng); Trạm khí hydro (hoàn thành); Nhà văn phòng, nhà ăn (phần kết cấu thô); Bể nước thải sản xuất (phần kết cấu thô); Bể nước thải sản xuất (phần hoàn thiện); Nhà bảo vệ 02 (phần móng); Nhà bảo vệ 01 (phần móng); Bể nước thải sản xuất (phần hoàn thiện); Nhà cầu 1-3 (phần hoàn thiện); Bể nước thải sản xuất (hoàn thành); Nhà để xe máy (phần móng); Kho rác độc hại (phần móng); Kho rác thải sản xuất và sinh hoạt (phần móng); Nhà xưởng V2A (phần kết cấu thô); Nhà xưởng V2B (phần kết cấu thô); Nhà cầu 1-3 (hoàn thành); K3 (phần móng); Kho hóa chất (phần móng); Nhà để xe máy (phần kết cấu thô); Nhà bảo vệ 02 (phần kết cấu thô); Nhà bảo vệ 01 (phần kết cấu thô); Kho rác độc hại (phần kết cấu thô); Kho hóa chất nguy hại (phần kết cấu thô); Kho rác thải sản xuất và sinh hoạt (phần kết cấu thô); Kho hóa chất (phần kết cấu thô); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3A (phần kết cấu thô); Nhà để xe máy (phần hoàn thiện); Trạm cân (2 cái); Kho rác độc hại (phần hoàn thiện); Nhà để xe máy (hoàn thành); Kho rác thải sản xuất và sinh hoạt (phần hoàn thiện); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3B (phần kết cấu thô); Nhà bảo vệ 02 (phần hoàn thiện); Nhà bảo vệ 01 (phần hoàn thiện); Nhà bảo vệ 01 (hoàn thành); K3 (phần hoàn thiện); Kho hóa chất (phần hoàn thiện); Bể nước ngầm (phần hoàn thiện); Bể tách mỡ (phần móng); Bể nước ngầm (hoàn thành); Nhà bảo vệ 02 (hoàn thành); Kho hóa chất (hoàn thành); Kho rác thải sản xuất và sinh hoạt (hoàn thành); K3 (hoàn thành); Kho rác độc hại (hoàn thành); Bể tách mỡ (phần kết cấu thô); Bể tách mỡ (phần hoàn thiện); Bể tách mỡ (hoàn thành); Nhà xưởng V2A (phần hoàn thiện); Nhà văn phòng, nhà ăn (hoàn thành); Nhà xưởng V2B (phần hoàn thiện); Nhà xưởng V2A (hoàn thành); Nhà xưởng V (hoàn thành); Nhà văn phòng, nhà ăn (phần hoàn thiện); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3B (phần hoàn thiện); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3A (phần hoàn thiện); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3A( hoàn thành); Nhà xưởng sản xuất tản nhiệt, đúc và lắp ráp tản nhiệt V3B (hoàn thành).
  • - 01(một) Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình để bàn giao đưa vào sử dụng.
  • - 01 (một) Báo cáo kết quả công việc giám sát thi công xây lắp về chất lượng xây dựng công trình.

Bộ hồ sơ tư vấn giám sát nêu trên, được Công ty K2 đưa vào hồ sơ nộp về Ban quản lý các khu công nghiệp T đề nghị kiểm tra xác nhận hoàn thành công trình để đưa vào sử dụng.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra về hồ sơ và kiểm tra thực tế tại công trường, ngày 27/10/2022 Ban Quản lý các Khu công nghiệp T ra Thông báo số 150/TB-BQLKCN về việc thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình đối với một số hạng mục của dự án (đối với các công trình cấp IV, chủ đầu tư có trách nhiệm tự tổ chức nghiệm thu hoàn thành). Sau khi có Thông báosố 150 của Ban Quản lý các Khu công nghiệp T, Công ty K2 đã đưa dự án đi vào hoạt động.

Công ty K2 đã thanh toán tiền theo hợp đồng cho Công ty T3 thành 02 đợt, gồm: Đợt 1,ngày 15/7/2022 tạm ứng 70% giá trị hợp đồng với số tiền 317.520.000 đồng; đợt 2,ngày 21/10/2022 thanh toán 30% giá trị còn lại của hợp

đồng với số tiền 136.080.000 đồng đều bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản số 0700843774 Ngân hàng V1 của Công ty K2 đến tài khoản số 48210000041677 Ngân hàng B của Công ty T3. Sau khi chủ đầu tư thanh toán đủ số tiền theo giá trị hợp đồng, Công ty T3 xuất hóa đơn GTGT số 00000007 ngày 21/10/2022cho Công ty K2.

Sau mỗi lần Công ty T3 nhận được tiền thanh toán của Công ty K2, Trần Bách D1 chỉ đạo kế toán của công ty là chị Trần Thị Ánh H1 đi rút tiền mặt và đưa cho K 75% số tiền nhận được; tổng cộng K đã nhận 340.200.000 đồng, số tiền còn lại 113.400.000 đồng Công ty T3 được hưởng.

Tháng 12/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H nhận được đơn tố cáo của công dân với nội dung Công ty T3 cạnh tranh tư vấn giám sát không lành mạnh nên đã tiến hành xác minh. Chị Vũ Thị U đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H toàn bộ hồ sơ tư vấn giám sát của Công ty T3.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K4 - Công an tỉnh giám định hình dấu của Công ty T3, chữ ký của Trần Bách D1 trên 81 tài liệu trong bộ hồ sơ tư vấn giám sátcủa Công ty T3.

Tại bản Kết luận giám định số 968/KL - KTHS ngày 16/12/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:

“1. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN HANDIC Đ.TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ NAM HÀ NỘI” dưới mục “Tư Vấn Giám Sát”, “ĐẠI DIỆN TƯ VẤN GIÁM SÁT”, “ĐƠN VỊ TƯ VẤN GIÁM SÁT” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A81 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M1 do cùng một con dấu đóng ra.

2. Hình dấu chức danh có nội dung “GIÁM ĐỐC – Kỹ sư TRẦN BÁCH DANH” dưới mục “Tư Vấn Giám Sát”, “ĐẠI DIỆN TƯ VẤN GIÁM SÁT”, “ĐƠN VỊ TƯ VẤN GIÁM SÁT” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ Al đến A81 so với hình dấu chức danh có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2 do cùng một con dấu đóng ra.

3. Hình dấu chữ ký đứng tên Giám đốc – Kỹ sư Trần Bách D1 dưới mục “Tư Vấn Giám Sát”, “ĐẠI DIỆN TƯ VẤN GIÁM SÁT”, “ĐƠN VỊ TƯ VẤN GIÁM SÁT” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A81 so với hình dấu chữ ký đứng tên Giám đốc – Kỹ sư Trần Bách D1 trên mẫu so sánh ký hiệu M3 do cùng một con dấu đóng ra”.

* Cáo trạng số 45/CT - VKS-P1 ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân

K và Trần Bách D1 phạm tội “Giả mạo trong công tác”. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 359; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 46, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân K từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Trần Bách Danh T2 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 05 năm.

Về hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ Giám đốc đối với bị cáo Trần Bách Danh T2 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật; cấm hành nghề kỹ sư xây dựng trong lĩnh vực tư vấn giám sát đối với Nguyễn Xuân K từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu toàn bộ số tiền các bị cáo K và D1 đã chiếm hưởng bất hợp pháp để nộp ngân sách Nhà nước. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất, cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội ổn định đời sống, ổn định sản xuất của đơn vị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và giai đoạn truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của các bị cáo phù hợp

với lời khai tại Cơ quan điều tra, với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Năm 2021, với mục đích hưởng lợi số tiền tư vấn giám sát xây dựng, Nguyễn Xuân K đã bàn bạc, thống nhất với Trần Bách D1 - Giám đốc Công ty T3 để Trần Bách D1 đứng ra ký hợp đồng tư vấn giám sát xây dựng Dự án AVC TechnolyogViệt Nam (giai đoạn 1) với chủ đầu tư là Công ty TNHH K2, tổng giá trị hợp đồng là 453.600.000 đồng. Trong quá trình dự án xây dựng của Công ty K2 được thi công, Trần Bách D1 không cử người tham gia giám sát mà để cho Nguyễn Xuân K lập các tài liệu, biên bản nghiệm thu khống và sử dụng con dấu chữ ký, dấu chức danh của Trần Bách D1 và dấu tròn của Công ty T3 đóng vào các tài liệu lập thành một bộ hồ sơ tư vấn giám sát xây dựng để chuyển cho Công ty K2 đưa vào hồ sơ xây dựng dự án trình Ban Quản lý các khu công nghiệp T thẩm định, kiểm tra theo quy định. Trong số tiền 453.600.000 đồng giá trị hợp đồng tư vấn giám sát được Công ty K2 chi trả, Nguyễn Xuân K chiếm hưởng 340.200.000 đồng, Trần Bách D1 chiếm hưởng 113.400.000 đồng.

Mặc dù Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 lập khống tổng số 81 tài liệu, tuy nhiên nếu tách riêng từng loại tài liệu thì mỗi bản sẽ không có giá trị pháp lý. Căn cứ phụ lục VIB ban hành kèm theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, các biên bản nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu bộ phận công trình trong quá trình thi công xây dựng, báo cáo giám sát và các tài liệu khác có liên quan trong giai đoạn thi công xây dựng và nghiệm thu công trình xây dựng đều là các tài liệu thuộc 01 bộ hồ sơ quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 359 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

4.1. Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 đều có nhân thân tốt, chưa bị cơ quan cơ thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

4.2. Về vai trò: Bị cáo Nguyễn Xuân K là người trực tiếp nhận tư vấn giám sát công trình xây dựng cho Công ty K2 và chủ động thỏa thuận với Trần Bách D1 để hoàn thiện các văn bản, tài liệu giả liên quan đến hoạt động tư vấn giám sát để hưởng lợi bất chính nên các bị cáo đồng phạm với nhau. Trong đó, bị cáo Nguyễn Xuân K giữ vai trò chính, bị cáo Trần Bách D1 giữ vai trò thứ hai.

4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo K và D1 đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; quá trình điều tra, các bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất hợp pháp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Bách D1 được Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam tặng Giấy khen, bị cáo D1 có mẹ đẻ được Ủy ban nhân dân tỉnh H tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo D1 có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo D1 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị bắt do thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và nộp toàn bộ số tiền được hưởng bất hợp pháp; các bị cáo đều có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng.

Hội đồng xét xử thấy các bị cáo K và D1 đều có khả năng tự cải tạo; việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên mức hình phạt tù phù hợp nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Như vậy là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đều vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Cụ thể, cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo D1 và cấm bị cáo K làm các công việc của kỹ sư xây dựng trong lĩnh vực tư vấn giám sát.

[7] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Xuân K hưởng lợi bất hợp pháp số tiền 340.200.000 đồng; bị cáo Trần Bách D1 hưởng lợi bất hợp pháp số tiền

113.400.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử tịch thu toàn bộ số tiền nêu trên của các bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về vấn đề khác:

  1. 8.1. Đối với chị Vũ Thị U và ông WANG J-PIN: Thời điểm Công ty AVC thi công xây dựng phía công ty chỉ có ông WANG JUI-PIN, ông WANG YEN - LUNG và chị U chịu trách nhiệm quản lý, giám sát thi công công trình. Chị U cho rằng bản thân không biết việc K lập hồ sơ tư vấn giám sát xây dựng khống nên đã chuyển tài liệu K đưa cho ông WANG JUI-PIN ký vào mục diện chủ đầu tư. Ngoài lời khai của chị U chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau khi có kết quả trả lời ủy thác tương trợ tư pháp của phía Đài Loan để xem xét và xử lý theo quy định của pháp luật.
  2. 8.2. Đối với ông Nguyễn Thái S - Phó trưởng phòng, Phòng quản lý quy hoạch và xây dựng Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam: Việc ông S giới thiệu các đơn vị tư vấn giám sát cho Công ty K2 là hoạt động hỗ trợ của Ban quản lý đối với các doanh nghiệp FDI trong khu công nghiệp. Quá trình chủ đầu tư và nhà thầu liên hệ, trao đổi ký hợp đồng, ông S không can thiệp, tác động và không biết việc K và D1 câu kết lập khống hồ sơ tư vấn giám sát, không được hưởng lợi gì từ việc giới thiệu các đơn vị tư vấn giám sát cho Công ty K2 nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông S làcó cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.
  3. 8.3. Đối với ông WU CHING CHIH - Tổng Giám đốc Công ty T5 và ông Q CHENG - Giám đốc Công ty TNHH P:

    Tài liệu điều tra xác định ông WU CHING CHIH là người ký vào mục đại diện đơn vị thi công xây dựng Công ty Thép và xây dựng Tự L1 và ông Q CHENG là người ký vào mục đại diện đơn vị thiết kế Công ty TNHH P Kiến Hưng trong các biên bản nghiệm thu do K lập. Tuy nhiên, bản thân hai ông là người nước ngoài, bất đồng về ngôn ngữ và trên thực tế vẫn diễn ra các hoạt động nghiệm thu công trình giữa đơn vị thi công, đơn vị thiết kế với chủ đầu tư nên khi ký vào các biên bản nghiệm thu các ông nghĩ đây là những biên bản hoàn thiện thủ tục nghiệm thu đã diễn ra theo quy định của pháp luật Việt Nam và không biết đó là các tài liệu lập khống. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh không xử lý trách nhiệm hình sự làcó cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.

  4. 8.4. Đối với chị Cung Thị Thanh N và chị Trần Thị Ánh H1: Tài liệu điều tra xác định, theo sự chỉ đạo của Trần Bách D1, chị N đã đưa dấu chữ ký của D1 và dấu tròn của Công ty T3 cho K để K sử dụng đóng vào hợp đồng tư vấn giám sát và các tài liệu, biên bản nghiệm thu; chị H1 là người đi rút số tiền Công ty K2 chi trả cho Công ty T3 và đưa tiền cho K nhưng cả hai không biết việc K và

D1 lập hồ sơ tư vấn khống và không được hưởng lợi gì nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh không xử lý trách nhiệm hình sự làcó cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

  1. 9.1. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. 9.2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 359, Điều 50, Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D1. Áp dụng Điều 106, Điều 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình sự:

    Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 phạm tội “Giả mạo trong công tác”.

    • 1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Xuân K cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    • 1.2. Xử phạt bị cáo Trần Bách D1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Trần Bách D1 cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung:
    • 2.1. Cấm bị cáo Trần Bách D1 đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Công ty cổ phần T3 trong thời gian 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
    • 2.2. Cấm bị cáo Nguyễn Xuân K hành nghề kỹ sư xây dựng trong lĩnh vực tư vấn giám sát trong thời gian 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Xuân K số tiền 340.200.000 đồng; của bị cáo Trần Bách Danh S1 tiền 113.400.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

    Đối trừ số tiền các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1 đã nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H theo Uỷ nhiệm chi số 570 lập ngày 26/5/2025 tại Phòng G - Kho bạc Nhà nước khu vực IV (cụ thể: Bị cáo Nguyễn Xuân K đã nộp 340.200.000 đồng, bị cáo Trần Bách D1 đã nộp 113.400.000 đồng).

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải hoàn trả nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Xuân K và Trần Bách D1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
  5. Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV & THA TA tỉnh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu bộ phận HCTP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Hùng Long

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2021, với mục đích hưởng lợi số tiền tư vấn giám sát xây dựng, Nguyễn Xuân K đã bàn bạc, thống nhất với Trần Bách D1 - Giám đốc Công ty H để Trần Bách D1 đứng ra ký hợp đồng tư vấn giám sát xây dựng Dự án AVC TechnolyogViệt Nam (giai đoạn 1) với chủ đầu tư là Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật AVC Việt Nam, tổng giá trị hợp đồng là 453.600.000 đồng. Trong quá trình dự án xây dựng của Công ty AVC được thi công, Trần Bách D1 không cử người tham gia giám sát mà để cho Nguyễn Xuân K lập các tài liệu, biên bản nghiệm thu khống và sử dụng con dấu chữ ký, dấu chức danh của Trần Bách D1 và dấu tròn của Công ty H đóng vào các tài liệu lập thành một bộ hồ sơ tư vấn giám sát xây dựng để chuyển cho Công ty AVC đưa vào hồ sơ xây dựng dự án trình Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam thẩm định, kiểm tra theo quy định. Trong số tiền 453.600.000 đồng giá trị hợp đồng tư vấn giám sát được Công ty AVC chi trả, Nguyễn Xuân Kh chiếm hưởng 340.200.000 đồng, Trần Bách D1 chiếm hưởng 113.400.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger