|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 17 - 06 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Trung Kiên.
Bà Hoàng Thị Thu Hường.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Vũ Văn T, sinh ngày 06/03/1993.
Nơi sinh: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Vũ Văn C, sinh năm 1960 và bà Trần Thị S, sinh năm 1963; Gia đình có sáu anh em, bị cáo là thứ sáu; Vợ là Ngô Thị T1, sinh năm 1993; Có hai con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
-
Họ và tên: Đoàn Đình K, sinh ngày 09/07/1987.
Nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đoàn Văn S1, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; Gia đình có sáu anh em, bị cáo là thứ năm; Vợ là Nguyễn Thị G, sinh năm 1989; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
-
Họ và tên: Ninh Ngọc C2, sinh ngày 15/02/1984.
Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ôngNinh Ngọc P, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ tư; Vợ là Trần Thị H, sinh năm 1986; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
-
Họ và tên: Trần Văn T2, sinh ngày 20/10/1984.
Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm I, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Trần Văn S2 (đã chết) và bà Trần Thị L1, sinh năm 1963; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị C3, sinh năm 1989; Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
-
Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh ngày 05/10/1978.
Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Thanh S3, sinh năm 1947 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1954; Gia đình có ba anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1985; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
-
Họ và tên: Mai Văn T3, sinh ngày 01/01/1983.
Nơi sinh: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Văn S4, sinh năm 1956 (đã chết tháng 03/2025) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958; Gia đình có ba anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị T4, sinh năm 1988; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; (có mặt).
- Người làm chứng: Anh Lê Văn N1, sinh ngày 01/01/983; (có mặt).
- Người chứng kiến: Anh Trần Văn Đ, sinh ngày 16/8/1982; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 11/4/2025; Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 đều là công nhân làm việc tại Xưởng đóng tàu của Công ty TNHH T5 ở Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T. Sau khi ăn cơm trưa xong về lán để nghỉ ở Xưởng đóng tàu. Vũ Văn T nói “có làm tý không”, ý rủ mọi người chơi đánh bài ăn tiền thì C2, T3, T2, B, K đồng ý. Sau đó Đoàn Đình K lấy ra bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân có sẵn trong lán rồi cùng nhau ngồi xuống đệm thống nhất đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh Liêng với cách thức chơi như sau: Góp tiền gà để ở giữa chiếu bạc số tiền 10.000 đồng/người/ván, tương đương 60.000 đồng/6 người/ván; mức tố cao nhất không quá 50.000 đồng/ván. Bắt đầu ván bài, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài. Bài cao nhất là “Sáp” gồm ba lá bài giống nhau, sau đó đến Liêng gồm ba lá bài liên tiếp nhau, rồi đến “Ảnh” gồm ba lá bài đầu hình gồm các quân J, Q, hoặc K. Khi không có “Sáp”, “Liêng”, “Ảnh” thì tính điểm từ A, 2, 3,...9 tương đương từ 1 đến 9 điểm; 10, J, Q, K tương đương 0 điểm. Người có bài cao nhất sẽ thắng, được ăn 60.000 đồng tiền gà và tiền của những người chơi thua tố ván đó đồng thời sẽ cầm cái, chia bài ở ván tiếp theo.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, cả nhóm bắt đầu chơi và có anh Lê Văn N1 ngồi xem. Đến 17 giờ cùng ngày, khi Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an thị trấn C phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trên mặt đệm 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mặt sau màu xanh.
- Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.800.000 đồng, trong đó thu trước mặt: Vũ Văn T số tiền 1.050.000 đồng, Đỗ Văn B số tiền 700.000 đồng, Trần Văn T2 số tiền 100.000 đồng, Mai Văn T3 số tiền 800.000 đồng, Đoàn Đình K số tiền 3.400.000 đồng, Ninh Ngọc C2 số tiền 2.750.000 đồng.
- Ngoài ra, thu giữ trên người Đỗ Văn B số tiền 3.100.000 đồng, Trần Văn T2 số tiền 3.800.000 đồng, Đoàn Đình K số tiền 280.000 đồng. Số tiền này B, T2, K đều khai nhận sẽ dùng vào mục đích đánh bạc.
Xử lý vật chứng của vụ án: Hiện tổng số tiền 15.980.000 đồng đã gửi vào tài khoản tạm gửi và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Quá trình điều tra xác định, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc như sau: Vũ Văn T có 4.000.000 đồng, Đoàn Đình K có 3.280.000 đồng, Ninh Ngọc C2 có 500.000 đồng, Trần Văn T2 có 4.000.000 đồng, Đỗ Văn B có 4.000.000 đồng và Mai Văn T3 có 200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSTN ngày 28/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B và Mai Văn T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B và Mai Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Đình K từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
- Phạt tiền các bị cáo Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B và Mai Văn T3 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều làm công việc tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 15.980.000 đồng; tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa và lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận đã phạm tội, không tranh luận gì và đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 17 giờ ngày 11/4/2025; các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng” được thua bằng tiền tại lán nghỉ của Công ty T5 ở Tổ dân phố N, thị trấn C huyện T, tỉnh Nam Định thì bị Công an thị trấn C bắt quả tang; thu giữ tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 15.980.000 đồng, trong đó số tiền thu trên chiếu bạc là 8.800.000 đồng và số tiền các bị cáo cất giấu trong người có mục đích sử dụng vào việc đánh bạc là 7.180.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội đánh bạc tại Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội ở cộng đồng dân cư. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được đánh bạc là tệ nạn xã hội, có tác động tiêu cực đến từng cá nhân, gia đình và xã hội nhưng vì động cơ vụ lợi vẫn cố tình vi phạm. Do đó các bị cáo phải bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm nhằm răn đe, giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Đây và vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng không có sự bàn bạc thống nhất, phân công vai trò trách nhiệm cho từng bị cáo mà là vụ án có đồng phạm mang tính giản đơn. Các bị cáo đều trực tiếp thực hiện tội phạm từ đầu đến khi bị bắt. Trong đó Vũ Văn T là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác nên có vai trò số 1; Đoàn Đình K chuẩn bị bài tú lơ khơ cho các bị cáo cùng chơi nên có vai trò số 2. Các bị cáo Đỗ Văn B, Trần Văn T2, Ninh Ngọc C2, Mai Văn T3 được rủ rê tham gia đánh bạc nên có vai trò số 3.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; đều có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có ý thức sửa chữa lỗi lầm của bản thân nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng án treo. Áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Vũ Văn T và Đoàn Đình K. Tuy nhiên các bị cáo đều là lao động tự do thu nhập không cao nên chỉ cần phạt tiền ở mức tối thiểu của khung hình phạt. Đối với các bị cáo Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị cáo tổng số tiền 15.980.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[9] Các vấn đề khác: Đối với anh Trần Văn Đ là giám đốc Công ty TNHH T5 nhưng anh Đ không biết và không được hưởng lợi gì từ việc các đối tượng sử dụng lán nghỉ của Công ty để đánh bạc; anh Lê Văn N1 chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, không có hành vi giúp sức gì do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Đ và anh N1. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N đã thực hiện đúng quy định pháp luật nên không xem xét.
[10] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025).
- Xử phạt bị cáo Đoàn Đình K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/04/2025 đến ngày 17/04/2025).
- Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; giao bị cáo Đoàn Đình K cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân. (Chi tiết cụ thể ghi trong biên bản giao nhận vật chứng số 47/THA ngày 13/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 15.980.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). (Chi tiết theo ủy nhiệm chi số 10, lập ngày 12/6/2025 do Công an tỉnh N nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Phạt tiền Vũ Văn T 10.000.000 (Mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Phạt tiền Đoàn Đình K 10.000.000 (Mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Xử phạt các bị cáo Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 mỗi bị cáo 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đang được áp dụng đối với các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 theo các lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 604, 605, 606, 607, 608, 609 cùng ngày 17/04/2025.
Buộc các bị cáo Vũ Văn T, Đoàn Đình K, Ninh Ngọc C2, Trần Văn T2, Đỗ Văn B, Mai Văn T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Kiên |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T và đồng phạm
