|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/HS - ST
Ngày: 11/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Phan Tuấn Anh.
- Bà Phạm Thị Dung – Nguyên phó phòng giáo dục thành phố Uông Bí.
- - Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương, thư ký tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST – HS ngày 09/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST – HS ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐHPT - HS ngày 29/5/2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Hoàng Quốc C (tên gọi khác: không có), sinh ngày 26/9/2007, tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: tổ 3, khu 4, phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Sơn L và bà Đào Thị Th; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” và “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: chị Đào Thị Th, sinh năm 1987; anh Hoàng Sơn L, sinh năm 1980, đều thường trú tại: tổ 3, khu 4, phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, là bố mẹ đẻ bị cáo Hoàng Quốc C, có mặt tại phiên tòa.
Khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập người đại diện theo pháp luật của bị cáo Tòa án giải thích cho bị cáo và người đại diện theo pháp luật cho bị cáo được biết về quyền trợ giúp pháp lý tỉnh Quảng Ninh và quyền yêu cầu Tòa án chỉ định luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, nhưng bị cáo và người đại diện theo pháp luật cho bị cáo đều từ chối không có yêu cầu gì.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- - Người làm chứng:
- - Người chứng kiến:
- - Người tham gia tố tụng khác:
Anh Nguyễn Minh Hải, sinh năm 1997.
Địa chỉ: tổ 1, khu 4, phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Anh Trần Đức Nam, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Anh Phạm Quang Hùng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện chính quyền phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Bà Đỗ Thị Hải Yến – Chức vụ Phó chủ Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/01/2025 Tổ công tác Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an thành phố Uông Bí làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1, khu 4, phường D, thành phố Uông Bí phát hiện Nguyễn Minh Hải (sinh năm 1997, trú tại tổ 1, khu 4, phường D, thành phố Uông Bí) đang bê vác 01 thùng bìa cattong nghi trong chứa pháo nổ, tiến hành kiểm tra. Vật chứng thu giữ: trong thùng cattong 02 băng pháo dài 140cm gắn tổng 174 quả hình trụ tròn và 47 quả hình cầu, đường kính mỗi quả 2,5cm; ngoài ra còn thu của Hải 30 khối hình trụ kích thước (09 x 02)cm một đầu có gắn dây cháy chậm và 30 giàn pháo hoa phun viên có vỏ in chữ Công ty TNHH MTV Hóa chất 21 D16 x 25.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh Hải khai nhận do trước đó biết Hoàng Quốc C sản xuất pháo nên vào cuối tháng 12/2024 và đầu tháng 01/2025 Hải đã đặt mua của C 05 băng pháo nổ và 30 quả pháo cối với giá 6.000.000₫ (Sáu triệu) đồng, Hải mới trả được 3.600.000 đồng cho C. Khi Hải nhận pháo, C cho biết vẫn còn nguyên liệu để quấn được 05 băng pháo nổ nữa, Hải biết ai mua thì giới thiệu cho C bán. Sau đó Hải mang số pháo mua được về sử dụng và cho bạn Trần Đức Nam (sinh năm 1993, trú tại khu 9, phường D) đốt hết 03 băng. Còn 02 băng và 30 quả pháo cối cất giấu mục đích để bán thì bị Công an kiểm tra thu giữ. Riêng 47 quả pháo trứng và 30 giàn pháo hoa phun viên, Hải đặt mua trên mạng xã hội và mua tại khu đập tràn Nhà máy điện Uông Bí, của những người không quen biết, không rõ lai lịch địa chỉ, mục đích để sử dụng và bán trong dịp Tết Nguyên đán.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Hoàng Quốc C, để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, C đã tự nguyện giao nộp 02 băng pháo nổ thành phẩm = 3,9 kg, 01 hộp nhựa chứa 1,6kg chất bột màu vàng nhạt (thuốc pháo), 47 tờ giấy màu đỏ, 231 khối hình trụ rỗng (vỏ quả pháo) và các đồ vật, dụng cụ để sản xuất pháo.
Quá trình điều tra Hoàng Quốc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, ngoài ra còn khai: khoảng tháng 12/2024, C nảy sinh ý định tự sản xuất pháo nổ để bán kiếm lời trong dịp Tết Nguyên đán, nên đã lên mạng tìm hiểu cách chế tạo, đặt mua hóa chất trộn làm thuốc pháo và nguyên liệu làm vỏ pháo (giấy, keo dán 502, màng bọc thực phẩm). Sau đó, C đã quấn được 05 băng pháo nổ và 30 quả pháo cối bán cho Nguyễn Minh Hải. Đến ngày 06/01/2025 bị Công an phát hiện, C đã mang 02 băng pháo thành phẩm chưa kịp bán và nguyên liệu, dụng cụ để sản xuất pháo giao nộp Công an.
Tại Kết luận giám định số 42 ngày 09/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:
- *Mẫu tang vật thu giữ của Nguyễn Minh Hải:
- + Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây dẫn cháy được liên kết lại với nhau thành 02 tràng và một số vật để rời của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, với những vật liên kết lại thành tràng thì nổ liên tiếp. Tổng khối lượng pháo: 2,490 kg.
- + 47 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, có gắn 01 đoạn dây dẫn cháy của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiến nổ. Tổng khối lượng 0,225 gam.
- + 30 khối hình dạng hình hộp chữ nhật mẫu ký hiệu M6 gửi giám định là pháo hoa, loại pháo do Công ty TNHH một thành viên hóa chất 21 – Việt Nam sản xuất. Tổng khối lượng pháo: 18,180kg.
- * Mẫu tang vật thu giữ của Hoàng Quốc C.
- + Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây dẫn cháy được liên kết lại với nhau thành 02 tràng và một số vật để rời của mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, với những vật liên kết lại thành tràng thì nổ liên tiếp. Tổng khối lượng pháo: 3,90kg.
- + Chất bột màu vàng nhạt ký hiệu M4 gửi giám định là thuốc pháo nổ, tổng khối lượng thuốc pháo nổ: 1,6kg.
- + Các vật hình trụ tròn có lỗ rỗng, vỏ bằng giấy, một số vật một đầu được bịt kín, một đầu để lỗ rỗng của mẫy ký hiệu M5 gửi giám định là các ống pháo (pháo bán thành phẩm), khi đốt không gây tiếng nổ. Tổng khối lượng 2,090kg.
Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: số vật chứng thu giữ hoàn lại sau giám định gồm: 1,635 kg pháo của mẫu vật ký hiệu M1; 0,190 kg pháo của mẫu ký hiệu M2; 13,895 kg pháo hoa của mẫu ký hiệu M6; 2,880 kg pháo của mẫu ký hiệu M3; 1,460 kg thuốc pháo và hộp nhựa của mẫu ký hiệu M4; 2,090 kg ống pháo của mẫu ký hiệu M5. Toàn bộ số pháo trên chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh để xử lý theo quy định và 01 thùng đựng 30 hộp pháo hoa do Bộ quốc phòng sản xuất trọng lượng 13,895kg được giao cho Công an tỉnh Quảng Ninh PC06.
Tại Bản cáo trạng số: 1312/CT – VKSĐT ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, truy tố bị cáo Hoàng Quốc C về tội “Sản xuất hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giữ quyền công tố luận tội, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 190, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 119, 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc C từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Sản xuất hàng cấm”, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp chành hình phạt tù; nếu thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định.
- - Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu của bị cáo số tiền 3.600.000₫ (Ba triệu, sáu trăm nghìn) đồng nộp ngân sách Nhà nước; Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ hoàn lại sau giám định gồm: 01 thùng đựng 30 hộp pháo hoa do Bộ quốc phòng sản xuất, trọng lượng 13,895 kg được giao cho Công an tỉnh Quảng Ninh PC06 bảo quản; 1,635 kg pháo của mẫu vật ký hiệu M1; 0,190 kg pháo của mẫu ký hiệu M2; 2,880 kg pháo của mẫu ký hiệu M3; 1,460 kg thuốc pháo và hộp nhựa của mẫu ký hiệu M4; 2,090 kg ống pháo của mẫu ký hiệu M5; 47 tờ giấy màu đỏ, 01 thanh kim loại, 01 thìa kim loại, 01 cuộn băng dính; 01 hộp bìa cát tông; 12 mẩu đầu dây dẫn; 03 đầu vòi nối lọ keo 502. Trả lại cho anh Nguyễn Minh Hải 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max máy đã qua sử dụng bên trong máy gắn sim số 0762.306.221.
Đại diện hợp pháp của bị cáo: chị Đào Thị Th và anh Hoàng Sơn L đều nhận thức được sự vi phạm pháp luật của con trai mình do giáo dục kèm cặp con chưa được tốt dẫn tới hậu quả như trên, đều mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho con trai của anh chị được cải tạo tại địa phương để anh chị được kèm cặp con tốt hơn.
Đại diện chính quyền phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Bà Đỗ Thị Hải Yến – Chức vụ Phó chủ Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo, ý kiến của Đại diện chính quyền phường D, người làm chứng, người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Viện kiểm sát nhân dân thị thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của Đại diện chính quyền địa phương, tuy nhiên Đại diện chính quyền địa phương có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đã trình bày đầy đủ và sự vắng mặt của người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Quốc C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến phù hợp với Biên bản kiểm tra vào hồi 12 giờ ngày 06/01/2025, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra.
Tại Kết luận giám định số: 42 ngày 09/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tang vật thu giữ của Nguyễn Minh Hải: Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây dẫn cháy được liên kết lại với nhau thành 02 tràng và một số vật để rời của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, với những vật liên kết lại thành tràng thì nổ liên tiếp. Tổng khối lượng pháo: 2,490 kg; 47 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, có gắn 01 đoạn dây dẫn cháy của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiến nổ. Tổng khối lượng 0,225 gam; 30 khối hình dạng hình hộp chữ nhật mẫu ký hiệu M6 gửi giám định là pháo hoa, loại pháo do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hóa chất 21 – Việt Nam sản xuất. Tổng khối lượng pháo 18,180kg; Mẫu tang vật thu giữ của Hoàng Quốc C. Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây dẫn cháy được liên kết lại với nhau thành 02 tràng và một số vật để rời của mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là pháo nổ, loại pháo tự chế ở Việt Nam; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, với những vật liên kết lại thành tràng thì nổ liên tiếp. Tổng khối lượng pháo: 3,90kg. Chất bột màu vàng nhạt ký hiệu M4 gửi giám định là thuốc pháo nổ, tổng khối lượng thuốc pháo nổ: 1,6kg. Các vật hình trụ tròn có lỗ rỗng, vỏ bằng giấy, một số vật một đầu được bịt kín, một đầu để lỗ rỗng của mẫy ký hiệu M5 gửi giám định là các ống pháo (pháo bán thành phẩm), khi đốt không gây tiếng nổ. Tổng khối lượng 2,090kg.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: trong khoảng thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 01/2025, tại khu 4, phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Quốc C có hành vi sản xuất pháo nổ với khối lượng 6,39 kg; trong số pháo đó C đã bán cho Nguyễn Minh Hải 2,49kg, thu lời số tiền 3.600.000đ (Ba triệu, sáu trăm nghìn) đồng, còn lại 3,9kg cất giấu mục đích để bán thì bị Công an phát hiện thu giữ.
[3] Bị cáo Hoàng Quốc C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý kinh doanh một số hàng hóa Nhà nước cấm, hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đã bị pháp luật cấm. Trong những năm qua các nghành, các cấp chính quyền đã có nhiều biện pháp để tuyên truyền, giáo dục đến nhân dân, tuy nhiên một số đối tượng vẫn cố ý thực hiện những hành vi Nhà nước cấm. Bị cáo Hoàng Quốc C nhận thức được hành vi sản xuất pháo nổ là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do không tuân thủ, bị cáo đã mua thuốc pháo qua mạng và tự sản xuất pháo nổ để bán trong dịp tết Nguyên đán 2024. Nên việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết để ngăn chặn các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán pháo nhằm đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Bị cáo có hành vi sản xuất hàng cấm là pháo nổ với khối lượng là 6,39 kg mục đích để bán kiếm lời, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Sản xuất hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên khả năng nhận thức và điều khiển hành vi có phần hạn chế, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, nên căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa những sai lầm của mình, nên không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành những công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.
[5] Về phần xử lý vật chứng: quá trình điều Cơ quan điều tra đã thu số vật chứng thu giữ hoàn lại sau giám định gồm: 1,635 kg pháo của mẫu vật ký hiệu M1; 0,190 kg pháo của mẫu ký hiệu M2; 2,880 kg pháo của mẫu ký hiệu M3; 1,460 kg thuốc pháo và hộp nhựa của mẫu ký hiệu M4; 2,090 kg ống pháo của mẫu ký hiệu M5, cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ hoàn lại sau giám định; đối với 01 thùng đựng 30 hộp pháo hoa do Bộ quốc phòng sản xuất, trọng lượng 13,895 kg thu giữ của anh Nguyễn Minh Hải đã chuyển cho Công an tỉnh Quảng Ninh PC06 xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 47 tờ giấy mầu đỏ chiều dài 69cm, chiều rộng 7,5cm; 01 thanh kim loại bản dẹt dài 09cm, rộng 0,3cm; 01 chiếc thìa kim loại có cán dài 09cm, có rãnh; 01 cuộn băng dính trong suốt loại dán một mặt, có mặt băng dính rộng 02cm; 01 hộp bìa cát tông bên ngoài có chữ “Sài Gòn 450” chứa 01 cuộn nilon màng bọc thực phẩm; 12 mẫu đầu dây dẫn được làm bằng màng bọc thực phẩm; 03 đầu vòi nối lọ keo 502; 01 vật hình trụ tròn chứa bột mì cuốn giấy gắn dây làm từ nilon bọc thực phẩm, không có giá trị sử dụng cần được tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max máy đã qua sử dụng bên trong máy gắn sim số 0762.306.221, thu giữ của anh Nguyễn Minh Hải đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh Hải, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho anh Hải.
Đối với số tiền 3.600.000đ (Ba triệu, sáu trăm nghìn) đồng bị cáo thu lời bất chính từ việc bán pháo, bị cáo đã tự nguyện nộp lại cho cơ quan Thi hành án, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 điều 190 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 49A/2025/LCXC – TA, ngày 12/5/2025 và “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 75/2025/LCĐKNCT – TA, ngày 12/5/2025, đối với bị cáo Hoàng Quốc C, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[9] Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65, Điều 91 Bộ luật Hình sự, Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Tuyên bố bị cáo: Hoàng Quốc C phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
-
Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc C 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hoàng Quốc C cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Quốc C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.
Trong thời gian thử thách bị cáo Hoàng Quốc C, được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự.
- Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ hoàn lại sau giám định gồm: 1,635 kg pháo của mẫu vật ký hiệu M1; 0,190 kg pháo của mẫu ký hiệu M2; 2,880 kg pháo của mẫu ký hiệu M3; 1,460 kg thuốc pháo và hộp nhựa của mẫu ký hiệu M4; 2,090 kg ống pháo của mẫu ký hiệu M5, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh với cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh ngày 09/5/2025 và
- Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình Sự; điểm c khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 47 tờ giấy mầu đỏ chiều dài 69cm, chiều rộng 7,5cm; 01 thanh kim loại bản dẹt dài 09cm, rộng 0,3cm; 01 chiếc thìa kim loại có cán dài 09cm, có rãnh; 01 cuộn băng dính trong suốt loại dán một mặt, có mặt băng dính rộng 02cm; 01 hộp bìa cát tông bên ngoài có chữ “Sài Gòn 450” chứa 01 cuộn nilon màng bọc thực phẩm; 12 mẫu đầu dây dẫn được làm bằng màng bọc thực phẩm; 03 đầu vòi nối lọ keo 502; 01 vật hình trụ tròn chứa bột mì cuốn giấy gắn dây làm từ nilon bọc thực phẩm, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh ngày 09/5/2025.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên trả lại cho anh Nguyễn Minh Hải 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max máy đã qua sử dụng bên trong máy gắn sim số 0762.306.221, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh ngày 09/5/2025.
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.600.000₫ (Ba triệu, sáu trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tiền số: 0001015 ngày 10/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Căn cứ: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 49A/2025/LCXC – TA, ngày 12/5/2025 và Lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 75/2025/LCĐKNCT – TA, ngày 12/5/2025.
-
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Quốc C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, báo cho họ biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cơ trú.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 41/2025/HS - ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 41/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Quốc Cường sản xuất hàng cấm
