Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Ngọc Thạch;
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tây Hạ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn T, sinh ngày 24-10-1995, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu T1 (đã chết) và bà Đặng Thị Hồng V; có vợ tên Lâm Thị Ngọc S, sinh năm 1992 và 01 con, sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 14-11-2024 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực VIII (huyện T) – Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

2. Trần Thị T2, sinh ngày 03-3-2003, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị T4; chồng: Không xác định; con có 01 cháu, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 25-8-2022, bị Công an xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC đối với Trần Thị T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng, chấp hành đóng phạt ngày 14-11-2022. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 21-11-2024 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực VIII (huyện T) – Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21-8-2024, do Bùi Văn T có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên T rủ Trần Thị T2 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì T2 đồng ý. Do không có ma tuý để sử dụng nên T đưa cho T2 200.000 đồng để T2 đi mua ma tuý về sử dụng. Đến ngày 22-8-2024, khi T2 đi vào xã T thì T2 nhớ là chưa mua ma tuý cho T nên T2 ghé tiệm tạp hoá gần khúc cua rẽ vào xã T hỏi người bán tạp hoá nhờ chuyển khoản vào số tài khoản 0899699507, Ngân hàng V1, chủ tài khoản N thì người bán nước đồng ý chuyển khoản cho T2 (người này không biết T2 chuyển tiền mua ma tuý) để T2 mua ma tuý của người đàn ông dân tộc Chăm (không rõ họ, tên, địa chỉ). Sau đó, T2 đến quán cà phê sau chợ S1 thì gặp người tên T5 (không rõ họ, tên, địa chỉ) mượn điện thoại của T5 để điện thoại cho người bán ma tuý (người đàn ông dân tộc Chăm) để thông báo là T2 đã chuyển khoản xong. Sau đó, T2 đi đến điểm hẹn tại con đường đất đỏ trong ấp C thuộc xã S, huyện T và nhận ma tuý được bỏ trong gói thuốc hiệu Jet để bên lề đường theo hướng dẫn của người bán ma tuý. Khi lấy ma tuý xong, T2 điều khiển xe mô tô đến nhà của T, tại đây T2 đưa cho T gói thuốc Jet, bên trong có một bịch nylon hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất ma tuý đá, T nhận bịch ma tuý rồi mang đi cất giấu ở trong túi áo khoác Jean.

Đến ngày 23-8-2024, T2 đến nhà T chơi, tại đây T lấy bộ dụng cụ sử dung ma tuý và lấy ra bịch ma tuý mà T2 đã mua trước đó đổ vào trong nỏ rồi dùng khò gas để đốt lên cả hai cùng sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng xong, T chỉ tay và kêu T2 cất bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vào túi áo khoác J treo trong phòng ngủ để đợt sau lấy ra chơi tiếp. Đến ngày 24-8-2024, Công an xã T tiến hành test nhanh chất ma tuý, kết quả T và T2 dương tính với chất ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra thu giữ vật chứng có liên quan.

Qua quá trình điều tra, thì ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, Bùi Văn T và Trần Thị T2 còn cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể như sau:

- Vào ngày 09-8-2024, do Bùi Văn T có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên Bùi Văn T đưa cho Trần Thị T2 200.000 đồng để T2 đi mua ma tuý và T2 đồng ý. Sau đó, T2 đi đến khu vực xã S liên lạc cho người bán ma tuý nêu trên để hỏi mua ma tuý với số tiền 200.000 đồng. Sau khi có ma tuý, T2 mang về đưa cho T, sau đó, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra và đổ ma tuý mà T2 đã mua vào nỏ thuỷ tinh rồi T và T2 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh Bùi Văn T và Trần Thị T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời khai nhận lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện,

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 24-8-2024 đối với Bùi Văn T và Trần Thị T2 thể hiện: Dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

* Kết luận giám định số 1708/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Bên trong 01 (một) nỏ thuỷ tinh (kí hiệu M) gửi đến giám định có chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,1341 gam.

* Kết quả thu giữ vật chứng:

  • - 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1708, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, Trợ lý giám định Nguyễn Chí L và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có nỏ thuỷ tinh;
  • - 01 (Một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có đục 02 lỗ, cắm 01 ống hút.

* Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện, Bùi Văn T và Trần Thị T2 không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không tiến hành kê biên.

Tại Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSTC ngày 06-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành chung cho cả hai tội là từ 09 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14-11-2024.
  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Thị T2 phải chấp hành chung cho cả hai tội là từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 21-11-2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 vì các bị cáo không có tài sản để thi hành án.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ xác định:

[2.1] Ngày 23-8-2024, tại nhà của bị cáo Bùi Văn T thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Bùi Văn T là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi cung cấp tiền cho bị cáo Trần Thị T2 đi mua ma tuý và T đã cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, địa điểm để tổ chức cho bị cáo và bị cáo Trần Thị T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy, qua kết quả giám định xác định loại Methamphetamine với khối lượng 0,1341 gam. Hành vi của các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra còn xác định: Vào ngày 09-8-2024, bị cáo Bùi Văn T đã cung cấp cho bị cáo Trần Thị T2 số tiền 200.000 đồng để T2 đi mua ma tuý mang về đưa cho bị cáo T. Sau đó, bị cáo T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra và đổ ma tuý mà T2 đã mua vào nỏ thuỷ tinh rồi các bị cáo T và T2 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý. Nên hành vi của các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Ngoài ra, vào ngày 23-8-2024, sau khi sử dụng trái phép chất ma tuý xong, bị cáo Bùi Văn T đã yêu cầu bị cáo Trần Thị Thúy C bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vào túi áo khoác Jean treo trong phòng ngủ nhà của bị cáo Bùi Văn T thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhằm mục đích để đợt sau tiếp tục lấy ra sử dụng. Số lượng ma tuý qua giám định đã xác định là Loại Methamphetamine, khối lượng 0,1341 gam. Nên hành vi của các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 26/CT-VKSTC ngày 06-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cơ thể con người, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh các loại tội phạm khác đồng thời gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo biết rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì thoả mãn nhu cầu cá nhân các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Về nhân thân đối với bị cáo Trần Thị T2 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại cùng với bị cáo Bùi Văn T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình chính là phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cả hai bị cáo đều tự thú ra hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” trước đó nên các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Bùi Văn T có bà ngoại tên Nguyễn Thị H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo Bùi Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng:

[5.1] Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”: Bị cáo Bùi Văn T là người khởi xướng trực tiếp bỏ tiền, cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T2. Đối với bị cáo Trần Thị T2 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo T về việc đi mua ma tuý để cùng bị cáo T sử dụng và về nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của bị cáo đã thực hiện nhưng chịu mức án nhẹ hơn bị cáo T.

[5.2] Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”: Sau khi sử dụng ma tuý xong, bị cáo T chỉ đạo cho bị cáo T2 cất giấu nỏ thuỷ tinh bên trong có chứa ma tuý để lần sau tiếp tục sử dụng. Bị cáo T2 là người trực tiếp cất giấu nỏ thuỷ tinh bên trong có chứa ma tuý để lần sau tiếp tục sử dụng. Do vậy, các bị cáo T và T2 phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

[6] Đối với nguồn gốc ma tuý của các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 tổ chức sử dụng: Quá trình điều tra, bị cáo T2 khai nhận chuyển khoản tiền mua ma tuý vào số tài khoản tên Nguyễn Phước L1 và không biết người bán ma tuý họ tên, địa chỉ ở đâu do không trực tiếp nhận ma tuý từ người bán. Qua làm việc với chủ tài khoản tên Nguyễn Phước L1 không thừa nhận có bán ma tuý cho bị cáo T2 và cũng không nhận số tiền chuyển khoản nào từ bị cáo T2 như bị cáo T2 khai. Sau đó, bị cáo T2 khai nhận mua ma tuý của bị cáo T rồi cùng bị cáo T tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên bị cáo T không thừa nhận có bán ma tuý cho bị cáo T2, bị cáo T chỉ thừa nhận là người đưa tiền cho bị cáo T2 đi mua ma tuý về cùng sử dụng. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với bị cáo Bùi Văn T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2 không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1708, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, Trợ lý giám định Nguyễn Chí L và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có nỏ thuỷ tinh; 01 (Một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có đục 02 lỗ, cắm 01 ống hút, là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện tội phạm, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 02 năm 2025).

[9] Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14-11-2024.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo Trần Thị T2 phải chấp hành chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 21-11-2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1708, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, Trợ lý giám định Nguyễn Chí L và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có nỏ thuỷ tinh; 01 (Một) chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có đục 02 lỗ, cắm 01 ống hút.

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 02 năm 2025).

4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Bùi Văn T, Trần Thị T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Bùi Văn T và Trần Thị T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực VIII (huyện TC);
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger